Đi điệu tìm trầm của dân Vạn Giã

Một thời cả làng tôi đi điệu. Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt. Thế là ủy ban xã chơi chiêu tập hợp thanh niên cắm trại. Họ lệnh cho các chủ nhiệm hợp tác xã ứng cho mỗi thanh niên 10 ký lúa. Mãn trại, lớp lớp thanh niên, một ít thanh nữ, sắm chuyến điệu tức thì.

Ngữ Yên

Một nhóm phu trầm đang đào tìm kỳ nam ở khu vực rừng Gộp Ngà, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa. Ảnh: T.L.

Thái Đoàn Thả là một thứ trâu cui, có sức mạnh hơn bạn bè đồng lứa. Bây giờ nó đang ở Úc. Ngày ấy Thả đánh xe bò chở hàng thuê. Nghề này chỉ đông khách ba bữa ngày mùa. Với Thả, việc cặp nách bao tạ lúa khoảng 60 kg dễ như chơi. Tôi thỉnh thoảng cũng kiếm được chuyến chở lúa bằng ba gác máy. Cặp nách bao tạ lúa đối với tôi không dễ chút nào. Phải nửa cặp nách, nửa bắt lưng chia gánh nặng, nên phải đi lom khom từ ruộng lên mặt đường lộ. Cực nhứt là lúc lên bao lúa một mình. Cực nhì là từ ruộng chuyển bao lúa lên dốc.

Trong nghề ba gác sướng nhứt là kiếm được mối bắt heo. Trước nhất là ngày nào cũng có chuyến. Tôi may sao được mối bắt heo cho bà Ngọc, một bà hàng thịt chợ Giã. Bà là người Bắc 54. Bà có đứa con gái tên Phượng ở trong ca đoàn giáo xứ Vạn Giã mà tôi đang làm ca trưởng nhờ biết chút đỉnh nhạc lý tự học từ ngày còn trong nhà trường nội trú thời trung học. Lúc đầu, tân binh bắt heo luôn lúng túng khi làm sao cho con heo chui vào rọ. Bà Ngọc dạy tôi về lý thuyết. Heo có con dạn có con nhát. Con dạn, chỉ cần gãi ngay mang tai nó là nó nằm im re. Nhẹ nhàng vừa gãi vừa đặt cái rọ gần mỏ heo. Heo đang lim dim vì được gãi, thình lình nghe tiếng dặm chân, chui tọt ngay vào rọ. Vào rồi khó lòng ra được. Gặp con heo nhát thấy người lạ tới chuồng là đứng lên đi vòng vòng quanh chuồng. Bắt loại heo như thế nếu không có kinh nghiệm, mất nhiều thời gian. Phải nhờ bà chủ nhà nuôi heo, gãi cho nó nằm xuống. Cao tay nghề, chỉ cần đứng ngoài chuồng, quăng cái rọ ngay trước mỏ heo là nó chui tọt vào rọ, vì nó nhát. Bà Ngọc chọn tôi là bà muốn tôi làm rể của bà. Cô Phượng tuy không đẹp, nhưng dễ nhìn, chỉ phải tội hôi nách. Bắt heo mỗi lần được trả 50 đồng, khá hậu hĩnh thời đó. Cực nhất là chuyển heo từ xe ba gác lên mui xe đò loại Thuận Thành (xe 50 chỗ). Một thời heo được ở trên đầu người. Năm ăn năm thua là phải hứng cứt heo lên mặt, nhưng nhứt định không được buông cái rọ. Heo mà rớt xuống đất chết là phải đền. Kinh nghiệm dạy là đưa heo lên mui xe phải tuyệt đối ngậm miệng. Chở một thứ khác, khá nhẹ nhàng, là chở phuy dầu 200 lít cho ngư dân Vạn Thắng. Hên xui do xếp hàng bắt chuyến. Bữa nào trúng chuyến chở Phú Hội thay vì Quảng hội là bụng khấp khởi, vì cuốc xe đi xa hơn. Vào đường làng gặp cát bủn do gần biển, phải giở đuôi xe cho phuy dầu trụt xuống đất. Cứ thế lăn đến nhà người thuê chở.

Rồi tôi mất mối bắt heo vào tay Đông, một đồng nghiệp nhà ở gần ga Giã. Cũng là dân ca đoàn. Đông có một cuốc xe mà anh còn sợ và rút kinh nghiệm phải kiểm hàng trước khi chở. Đó là cuốc xe chở hai giỏ cần xế trứng vịt, trên miệng tủ đầy rơm. Chị Trang, chị của một người bạn mướn chở ra Tân Dân, xa hơn cả Phú Hội. Tới Vạn Bình, thình lình có anh du kích xã vẫy tay chận đường. Chị Trang ôm Đông thiệt chặt và biểu anh chạy luôn không dừng. Thì ra, trong giỏ chỉ có một ít hột vịt, còn bên dưới mỗi giỏ cần xế là hai can dầu. Dầu đến Tân Dân sẽ được chôn dưới cát. Đủ số dầu, sẽ có một chuyến vượt biên. Vòng về, tay du kích chận xe gắt gao. Đông dừng xe và nhanh trí trả lời: tưởng chận xe quá giang, không còn chỗ nên chạy luôn.

Mùa xe bò ế, Thái Đoàn Thả theo chân dân điệu đi núi. Mới chuyến đầu tiên là anh ta bị sốt rét. Uống thuốc viên không cắt cơn. Thả là người mà ngày đầu tiên tôi học nghề thủy châm (tiêm thuốc vô huyệt) từ Bình Dương về dám đưa mắt cho tôi chích Filatov vào hai huyệt tình minh sát hốc mắt, gần sóng mũi, trị bịnh viêm mắt đỏ lúc đó đang dịch. Cả làng nghe tin Thả được thủy châm hết bịnh, rủ nhau nhờ chích thuốc vào huyệt. Trị sốt rét cho Thả, tôi truyền cho anh ta nửa lít nước biển pha với quinine tiêm của Tàu. Và mỗi lần như thế phải ngủ lại nhà thân chủ để theo dõi. Nửa đêm mắc tiểu, nó tự mình giở chai nước khỏi máng treo. Rồi vừa cầm chai thuốc giơ cao vừa đi ra vườn để thanh toán cái bàng quang đang nặng trĩu… Tôi mắt nhắm mắt mở không thấy nó, hết hồn. Khi nó vào giường trở lại mới hú hồn. Đó là ca bịnh đáng nhớ vì bịnh nhơn xách bình serum đang truyền trốn… viện.

Cả thôn Phú Cang 2 và thôn Vinh Huề + làng kinh tế mới, ai sốt rét đều tìm đến tôi. Thỉnh thoảng cũng có bịnh nhơn bên Phú Cang 1. Bí thơ và công an xã Vạn Phú cũng là bịnh nhơn sốt rét của tôi, tuy họ không đi điệu. Bí thơ mắc sốt rét vì là bộ đội trên núi về. Cơ mông của ông – nơi chích thuốc – nhão đến nỗi chích thuốc vào phải bịt chặn bằng ngón tay một lúc. Không thì thuốc sẽ chảy ra ngoài.

Nhưng đi điệu thường mười chuyến trật hết chín chuyến. Chuyến trung toàn là trúng chút đỉnh. Đủ để sắm chuyến đi lần sau. Có khi trật luôn mười chuyến. Thuốc sốt rét lại toàn chích chịu. Để thầy lang làng đỡ sốt ruột, bầu nào đi về cũng mời nhậu. Họ kể toàn chuyện của họ. Từ đó tôi mắc bịnh ngủ ngồi giữa cuộc nhậu.

Cái mà dân điệu cần nhứt là Bà Cậu cho một giấc mơ. Theo đó giải điềm gió nằm ở hướng nào. Chuyện Bà Cậu cho giấc mơ là chuyện đời xưa. Sau năm 1975, dân điệu xứ tôi dạo nát núi rừng xứ Trầm Hương, ra đến Phú Yên, v.v. Trường Sơn không sót chỗ nào kể cả qua Lào. Họ rút ra được một kinh nghiệm, chỗ nào bom đạn nhiều, nhứt là vùng Mỹ dội bom. Miểng bom găm vào cây gió gây thương tích. Chừng mười năm sau là có trầm. Có trầm là có tiền. Kỳ nam chỉ chờ duyên khởi của Bà, Cậu. Chỗ dễ có “kỳ” nữa là các khu thánh địa không ai được xâm nhập của người dân tộc. Họ thấy tiền cũng sáng mắt mà.

Nhà Ba Ái ở gần ga Giã. Dân buôn trầm thường giấu hàng ở đây để chờ xe lửa. Hàng sẽ theo chân thương lái vào tận Sài Gòn, chờ xuất qua Hong Kong. Dường như có ai chỉ điểm. Hôm đó quản lý thị trường huyện xộc vào nhà. Họ lật đật giấu bất kỳ chỗ nào được chăng hay chớ. Tối đó tôi nhậu với Ba Ái say quắc cần câu nên nằm ngủ luôn trên phản cùng với hai đứa nhỏ con anh. Tôi lấy được mấy miếng trầm nhét vào bụng hai đứa nhỏ. Họ không soát tụi nó. Sáng hôm sau trên nỗi đau của người khác, hai anh em có tí tiền mua rượu ngon mồi béo nhậu tiếp.

Hai Trành kể chuyện không đủ tiền ăn tết ở nhà cho bằng với người ta nên rủ mấy người bạn tâm phúc lên núi ăn tết. Họ đi điệu riết, trở nên “sáng núi”, nghĩa là ít bị đi lạc. Dân điệu lên núi không được nói từ “lạc”. Thay vì vậy, họ nói với nhau là “xịnh”, bị “xịnh”. Ăn trên núi bên gốc những cội mai nở vàng cả một rừng. Nghèo tiền nhưng giàu lãng mạn. Rượu mang theo lên núi vừa uống vừa ngắm mai. Đem gạo theo ăn đàng không được nói “gạo”. Phải gọi là “mễ”. Chó gọi cẩu. Khỉ gọi khởi. Trăn rắn gọi râu dài. Heo rừng gọi dủi. Voi gọi ông lớn.  Cọp gọi là hảo. Bệnh đau nói trại là se. Đau bao tử nói là đau bao tải. Cái võng gọi là cái đưa. Chết gọi bằng trỗi. Cách nói trại, nói lệch để tỏ lòng thành cũng có, để kiêng dè cũng có. Khi đi rừng có lệ: gặp rắn thì đi, gặp quy thì về. Sau 1975, khi cả làng đi điệu, sự kiêng cử bị bỏ đi thiệt nhiều. Những ông tuổi trẻ còn cố tình rủa sả: “Cọp bắt mày đi” giữa rừng. Họ còn tè ngay vào bếp khi đi tiếp. Điều này cấm kỵ thuở trước. Thường những bầu điệu này toàn là trẻ với trẻ. Những người lớn tuổi không chấp nhận sự đùa giỡn, sự không kiêng kỵ đó.

Nói chuyện đi lạc, dân điệu Phú Cang 2 kính nể nhứt là anh Hà An. Chữ nghĩa ít, nhưng An có bản năng băng rừng ít khi bị lạc mà không tìm được lối về. Ai đi rừng Dục Mỹ hay Diên Khánh với An, đều khá là yên tâm.

Tôi có ông bạn tên Dương sói nay đang ở Mỹ. Dương sói có tài bắn ná. Bữa nào rảnh, Dương lên rẫy, gác kéc rẫy bắp giùm tôi. Con kéc nào Dương thấy đang bay là nó vô phước làm đồ nhậu cho chúng tôi. Riết rồi kéc không dám bén mảng qua rẫy sát bên núi Hòn Chảo. Dương sói ra vô nhà để mang bình và thuốc xịt rau muống mướn cho ba tôi. Rồi cái bình Hudson không cánh mà biến mất… Bầu của ông bạn này đi lạc tới mấy ngày, đói khát vô chừng. Tìm ra đường và xuống núi được, cả bọn tắp vào một thị trấn. Dương sói kêu một lần hai cuốn bánh tráng to. Ăn một cuốn, rồi bắt đầu ăn cuốn nữa. Tự nhiên Dương lăn ra ngất xỉu, miệng còn ngậm một miếng bánh tráng to chà bá. Cả bọn chở Dương đi trạm y tế gần đó cấp cứu. May sao anh chàng qua khỏi.

Hai Trành kể lại kinh nghiệm những mùa khô không được đóng trại gần hủng nước, vì tất cả thú rừng đều tìm đến hủng nước ấy bất kể đêm ngày. Một thanh niên có khuôn mặt giông giống Võ Đại Tôn nên hay bị chận xét giấy. Anh chàng này xui mà hên. Anh bị gấu rừng tát cho một cái vào mặt khi đóng trại ở một hủng nước. May mà không chết. Nhưng vết sẹo làm mặt bị biến dạng. Không còn bị chận xét giấy tờ như trước nữa. Sau năm 1975 vài năm, đường quốc lộ 1 là ranh giới giữa xã Vạn Phú và Vạn Thạnh. Anh chàng bị gấu rừng tát ở bên này đường quốc lộ nên cùng thôn với tôi. Nhưng tôi quên mất tên.

Mùa mưa càng trùng trùng nguy hiểm hơn nữa. Một dòng nước chút xíu bỗng dưng thành giòng sông mênh mông nước. Những người có kinh nghiệm thường kiếm một cây cao để trèo lên tránh lũ, chờ hết mưa. Một cô gái ở Vạn Thắng tên Nga, không có kinh nghiệm đó, bị nước cuốn trôi mất xác. Ở nhà chỉ còn nước lập mộ gió.

Đi điệu có một dạo trúng nhưng không lớn vì giá cả không cao. Số là thị trường thình lình ăn trầm của cây gió niệt. Loài cây này mọc nhiều ở rừng núi Phú Yên. Ai đi lấy trầm gió niệt cũng kiếm được ít nhiều, nhậu nhẹt xả láng. Tôi thường được mời tới những bữa nhậu ấy. Và được trả ít tiền thuốc tuy chưa tới tết. Được mấy tháng thị trường không ăn trầm gió niệt nữa. Thế là dân điệu giã từ Phú Yên.

Tìm trầm vẫn là nghề bị cấm bất thành văn. Dụng cụ chính gồm rìu, rựa, đồ xỉa trầm có cán bằng gỗ giống như cái đục, nhưng lưỡi uốn cong theo chiều dọc. Rìu có thể tháo cán khỏi thân rìu nên dễ giấu. Rựa cán dài trở thành chướng ngại, dễ lộ ra là dân đi điệu, nên ai đó có sáng kiến cưa ngắn cán rựa chỉ còn dài chừng 15 phân, dễ giấu trong ba lô. Từ đó cán rựa của dân điệu theo một hình dạng như nhau.

Ngoài mớ đồ nghề nặng ký, tùy theo dự tính chuyến đi dài hay ngắn, họ đong gạo theo. Ngày ba bữa ăn, mỗi bữa một chén gạo, cứ thế nhân lên. Ngoài gạo còn phải có một mớ nếp. Cá thường là cá ngừ bò được kho đến khô quăng trúng đầu có thể u lên một cục. Thịt đừng nghĩ tới. Thứ quan trọng hơn nữa là đường tán để nấu chè giúp tăng lực.

Hai Trành, bạn nhậu ở gần nhà, có lần kể về vụ gặp cọp. Đêm bầu của anh đóng trại ở một trảng trống. Trời mưa phất phơ. Họ đốt lửa trại khó khăn. Phải đốt mấy đống lửa bằng cây tươi, cây mới cháy lâu, khó tắt. Đêm nằm giữa khuya chợt cọp tranh chỗ sưởi với người trong lều. Trong nỗi sợ, có người lanh trí kêu anh em mỗi người một thanh củi đang cháy cùng nhau đuổi cọp. Cọp thấy nhiều cây lửa và tiếng la, tiếng đập xoong nồi, nên bỏ chạy. Cả bầu hú hồn.

Tôi sống tạm đủ với nghề lang làng, nên chưa đi điệu lần nào. Chỉ biết chuyện đi điệu qua bịnh nhơn ở các cuộc nhậu.

Mỗi năm cứ đến gần tết, lại nhờ nhỏ em gái thứ tư lên từng nhà ở thôn Vinh Huề và khu kinh tế mới đòi nợ. Được đồng nào hay đồng đó. Đi đòi nợ giùm cũng phải có hoa hồng. Bằng không dễ gì nhờ, dẫu là ruột thịt. Dưới Phú Cang phần tôi lo đòi nợ. Có người có tiền trả, có người năn nỉ hẹn nợ, bằng rủ nhậu. Thậm chí có ông bịnh nhơn làm nghề hớt tóc cấn nợ bằng công hớt đầu cho tôi.

Một bữa có chiếc xe Daihatsu chạy quẹo vào nhà dượng ba Phước. Thường những chuyến này, cũng giống như phương trình có hai nghiệm. Hoặc là sung sướng hoặc là cay đắng. Hôm đó là chuyến xe cay đắng. Nạn nhân là Nam, lớn tuổi hơn tôi, nhưng vai vế nhỏ hơn, kêu tôi bằng anh. Nam bị chết trên núi vì sốt rét. Anh em cõng xuống núi và thuê xe chở về nhà.

Có khi sung sướng rồi nhanh chóng cay đắng. Đó là vụ trúng đậm kỳ nam của cha anh Hùng xích lô, một thời là đồng nghiệp xích lô, ba gác với tôi. Ông Năm Hường trúng lớn. Về kêu thợ đặt cây, đặt gạch xây ngay một căn nhà ngói ở khu kinh tế mới xã Vạn Phú. Khách lúc nào cũng đầy nhà. Bia bọt quá xá cỡ. Ăn nhà mới xong, ông Hường mới tập hợp bầu quay trở lại cây gió cũ để mót đến cận cùng gốc rễ. Chuyến đi đó về cũng kiếm được thêm ít nữa. Nhưng ông ngã bịnh. Tôi được gọi lên chích thuốc. Tôi đoán không ra ông bịnh gì. Lắc đầu xin phép về. Người nhà năn nỉ chuyền nước biển cho ông. Tôi chỉ chuyền nước biển và glucoza. Có tiền nên nhiều thầy bàn. Có thầy bàn ông mắc ban khỉ. Tôi e vụ này không êm, nên cẩn thận và ngại đến. Tìm cớ mắc việc hợp tác xã. Sau đó ông chết.

Ngữ Yên

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.