Chợ Lớn

Ở sát cảng Sài Gòn, ăn về đồng bằng sông Cửu Long, nhờ vậy mà Chợ Lớn đóng vai trò quan trọng của một kho chứa hàng, đất rộng, khu phố có thể nối mãi về phía Tây. Đây là huyện Tân Long của phủ Tân Bình, kiểm soát tận bờ sông Vàm Cỏ Đông. Đời Gia Long, huyện lỵ đóng tại thôn Phước Tú (chợ Bến Lức). Trước khi Pháp đến, chợ phố đã phồn thịnh, huyện lỵ ở Chợ Lớn. Thực dân duy trì cơ sở này, ngoài đô thành Chợ Lớn còn tỉnh Chợ Lớn ăn đến Cần Giuộc, Đức Hòa.

Sơn Nam

FB_IMG_1657958203235

Vào những năm giữa thế kỷ thứ XVIII, Chợ Lớn còn thưa thớt, bấy giờ trung tâm mua bán với nước ngoài, quan trọng nhất của Nam Bộ là Cù lao Phố ở Biên Hòa. Gia Định Thành Thông Chí mô tả: Thuyền buồm đến đây, hạ neo xong thì lên bờ thuê phố ở. Rồi đến nhà của chủ mua để kê khai những hàng hóa trong thuyền mà khuân cất lên, thương lượng giá cả. Chủ nhà kho định giá mua khoán tất cả hàng hóa tốt xấu, không bỏ sót lại bất cứ thứ gì. Đến ngày trương buồm về, gọi hồi Đường (trở về Trung Quốc), chủ thuyền có yêu cầu mua vật gì thì chủ kho ấy mua giùm, chở đến trước kỳ giao hẹn. Hai bên chủ khách thanh toán đơn rồi cùng nhau chung vui đàn ca. Đã được nước ngọt tắm rửa sạch sẽ (nước sông Đồng Nai), không lo nạn “hà ăn lủng ván thuyền, khi trở về lại chở đầy hàng hóa thật là thuận lợi”. (1)

Mua bao tất cả hàng hóa khi thuyền nhổ neo là chức năng của mại bản, tư bản thương nghiệp. Nhóm mại bản ở “Đại phố” gồm những người Hoa đến hồi cuối thế kỷ thứ XVII được ta bao dung, phải dời gấp đến Chợ Lớn vì lý do tất yếu: Quân Tây Sơn vào Nam truy nã chúa Nguyễn và trừng phạt bọn Lý Tài phản động (trước theo Tây Sơn, sau trở mặt theo chúa Nguyễn).(2) 

Chợ Lớn trở thành nơi thuận lợi sau khi Cù lao Phố bị phá tan. Tàu thuyền từ cửa Cần Giờ đến gần đường hơn, lại dễ tập trung lúa gạo, cá khô của đồng bằng sông Cửu Long.

Mức sản xuất của đồng bằng tăng lên. Thêm nhiều ngành tiểu công nghệ phát triển nhanh, so với lúc còn ở Cù lao Phố. Bài phú Cổ Gia Định, ghi lại: “Cắc cớ chợ Lò Rèn, nghe lạc chạc nhà Ban (Lỗ Ban) đánh búa”, “Hằng thấy kẻ hào hùng xốc ốc, nồng nàn kẻ ở Lò Vôi”, “Xóm Cối xấy làm lạc chạc, chồng đục họng, vợ trổ tay”, “Trong Cầu Đường chuối ngót ngọt ngon, đủ đường cát, đường hạ, đường phèn, đường phổi”, “Ngoài xóm Bột phong tô trắng dã, những bột mì, bột lọc, bột đậu, bột khoai”. (3) Chợ Lớn tập trung nhiều chùa chiền của Hoa kiều với lễ lạc, cúng tế riêng biệt.

Sống rời rạc ở thôn quê, cưới vợ Việt hay vợ Khơme thì người Hoa kiều lần hồi trở thành người Việt. Họ làm rẫy, buôn bán hàng xép, khẩn đất, cho vay rồi lên trung nông, điền chủ, hương chức, hội tề, cai tổng. Nhưng nếu sống tập trung ở chợ phố với nghề mua bán và tiểu công nghệ thì họ kết hợp chặt chẽ, tạo một thế giới riêng, bưng bít. Từ hồi các chúa Nguyễn mãi đến khi Pháp xâm chiếm, bước đầu của người Hoa ở Chợ Lớn, ở thị xã, chợ làng lớn nhỏ vẫn nằm vào trọng tâm cất chùa miếu. Đáng chú ý chùa Ông Bổn tiêu biểu cho óc bá quyền của thời phong kiến nhà Minh. (4) Trịnh Hòa, nhà hàng hải Trung Quốc thừa lệnh vua Vĩnh Lạc, trong khoảng thời gian hơn 20 năm đã bảy lần đi biển xa đến tận I-ran, A-đen, bờ biển Đông châu Phi, thăm hơn 30 nước. Đoàn thuyền của Trịnh Hòa trên hai trăm chiếc lớn nhỏ, trong đó hơn 60 chiếc loại “bảo thuyền” dài chừng 150 mét, chuôi bẻ lái dài 11 mét, căng 12 lá buồm lớn nhỏ. Nhiệm vụ của Trịnh Hòa là phổ biến văn minh Trung Hoa, mặt khác điều nghiên phong tục, tập quán, thổ sản và địa lý với ý xấu, dùng người Hoa ở địa phương làm tai mắt rồi nâng đỡ một cách thiết thực giúp tiền bạc cho người nghèo, giúp kiều dân hải ngoại tổ chức những cơ quan từ thiện nhằm đoàn kết nội bộ. Người Hoa ở nước ngoài thờ họ Trịnh như vị phúc thần gọi Tam Bảo Công hoặc Bổn Đẩu Công, hằng năm lên xác biểu diễn ngồi bàn chông, đâm xuyên quay. Ta gọi nơi thờ phụng ấy là chùa Ông Bổn. Giới bình dân người Việt có thái độ dứt khoát đối với người Hoa có óc tự tôn, đồng thời tỏ ra vui vẻ với người Hoa hiền lành. Bài thơ của Học Lạc lúc bị đóng trăn chung với người Hoa kiều còn can tội đứng cái sòng bông vụ đả kích bọn cường hào ở thôn quê, thương xót người Hoa kiều nọ và chính mình. “Bợm làng chẳng vị sĩ năm kinh. Ông Bổn không thương người bảy phủ”. Lại còn chùa Bà mà người Hoa rất kiêng nể, dành cho sự tín ngưỡng tuyệt đối. Bà là nhân vật có thật nhưng được tô điểm như bậc tiên thánh, có thể dùng bùa phép cứu vớt người bị đắm thuyền ngoài biển cả. Thời trước, người Hoa dùng phương tiện thuyền buồm, sóng gió bất kỳ. Họ ra nước ngoài hoặc trở về quê quán, cầu mong đi tới nơi, về tới chốn; vì vậy, kiêng cữ thịt cá sấu, sợ bị trả thù lúc đắm thuyền.

Khi ở nước ngoài, một số người Hoa cố ý tìm long mạch để trấn ếm hoặc chiếm giữ, dành cho thân nhân họ. Và thường bí mật săn vàng đào xới nền mộ, nền chùa xưa, bảo đó là thân nhân họ chôn giấu hoặc Ông Bổn để lại. Trong thực tế, đa số trường hợp là của địa phương chôn giữ, của thổ dân từ hàng chục thế kỷ trước.

Ngoài chùa Ông Bổn, chùa Bà, còn chùa Ông (thờ Quan Đế, Quan Công). Chùa miếu làm nơi tụ họp hợp pháp để bàn chuyên hùn vốn, cho vay, góp tiền xây cất trường học chữ Hoa, chưa đủ sức cất trường thì tạm thời học tại chùa. Rồi từ đó, lập ra bệnh viện, mua đất làm nghĩa địa. Trụ sở của bang trong lúc đầu dùng ngôi chùa nói trên. Vì muốn sống tập trung cho dễ mua bán, họ sẵn sàng ăn ở chật chội, mỗi căn nhà phố nhỏ chứa đôi ba gia đình với đám trẻ con đông đúc nô đùa trong ngõ hẻm. Bù lại sự thiếu tiện nghi ấy, họ mở nhiều quán lớn nhỏ ở ngã tư đường để ăn điểm tâm, hò hẹn làm ăn, thết tiệc mừng, làm đám cưới. Bệnh viện lại phát triển, lập nhà tang nghi quán phục vụ khi ma chay.

* * *

Khi Pháp chuẩn bị đánh đại đồn Phú Thọ, bọn mại bản đứng về phía triều đình Huế, sợ Pháp chiếm Nam Kỳ thì mất vai trò. Nhưng vài tháng sau, họ gom lúa gạo cung cấp cho cảng Sài Gòn. Thực dân đang cần vốn liếng và hệ thống phân phối của họ để tiêu thụ hàng hóa đặc biệt là á phiện.

Từ bên Trung Quốc trở về, giặc Pháp mộ thêm một số lao công người Hoa phục vụ cho hậu cần. Chiếm xong đồn Phú Thọ, rồi toàn cõi Nam Kỳ, chúng chủ trương cho người Hoa di cư vào thật đông để có số tay sai trung thành chỉ biết tiền bạc vì đa số đồng bào ta bấy giờ ẩn lánh, không muốn rời làng mạc hợp tác với giặc.

Trong bước đầu, bọn thương gia Chợ Lớn được bọn thực dân ưu đãi. Bang trưởng Quảng Đông Tiêu Bỉnh Hiệp làm việc từ năm 1859 mới chịu nghỉ vì tuổi già. Hắn xin nhà nước cấp cho huy chương. Trong bọn phiêu lưu, có trường hợp điển hình của Trần Trứ. Một năm sau khi Pháp đánh chiếm thành Gia Định. hắn từ Singapore đã tới Sài Gòn, xin làm thông dịch, hắn biết tiếng Anh, Pháp, Mã Lai, Việt Nam và hầu hết các thổ âm của vùng tỉnh Quảng Đông, Phước Kiến. Được chủ tỉnh hạt Sài Gòn mướn làm công chức, hắn tha hồ tống tiền, hút á phiện. Bọn cầm quyền đuổi hai ba lần, rồi thâu dụng trở lại vì hắn làm lợi cho chế độ. Năm 1882, được theo chân quân đội Pháp ra Hà Nội nhưng tên chỉ huy Hănri Ri-vi-e đành tống cổ hắn về Sài Gòn vì hạnh kiểm quá tồi tệ. Hắn quay qua nghề thông dịch chạy mối cho thương gia Pháp để tiếp tục ăn hút.(5) 

Hai tay mại bản khét tiếng trong buổi đầu là Teng Keng Ho (Tăng Khánh Hồ) và Teng Keng Seng (Tăng Khánh Sang) chuyên đấu thầu cho chính phủ và quân đội, mua sắm nhà phố và đất thổ cư để sang qua nhượng lại; cả hai thuộc quốc tịch Anh ở Singapore. Bọn mại bản ở Singapore và Hương Cảng đến với nhiều vốn liếng, hiểu rành thuật thương mãi, cách thức ký giao kèo, chuyển ngân, làm hóa đơn khai quan thuế, thủ tục gởi hàng hóa ở kho nên được thương gia Pháp tin cậy (Singapore và Hương Cảng đã là nhượng địa của Anh trước Sài Gòn). Họ làm áp phe, giao thiệp đút lót cho quân đội và chính quyền nên vơ vét nhiều món tiền mà bọn thương gia Pháp, Đức bỏ rơi, vì là lợi nhỏ, hoặc không đủ khả năng đảm nhiệm: cung cấp cây, ván, gạch để xây cất công sở ở Sài Gòn và các tỉnh, cung cấp thực phẩm cho bệnh viện, nhà tù, đấu giá hoa chi bến đò, lò heo, đổ thùng cầu vệ sinh. Bọn áp phe Ấn kiều cũng chia phần không nhỏ.

Hai nhân sĩ Hoa kiều được thực dân nhắc tới trong buổi đầu là Vạn Hiệp (Ban Hạp, chủ hiệu Vạn Hiệp) và Wang Tai (Hoàng Thái, chủ hiệu Hoàng Thái Xương). Họ trúng thầu á phiện nhiều năm liên tiếp cho toàn cõi Nam Kỳ. Vạn Hiệp làm chủ non phân nửa nhà phố ở Chợ Lớn và khai thác gần như độc quyền hầu hết các tiệm cầm đồ ở Chợ Lớn.

Năm 1874, trong cuộc họp để chuẩn gạo xuất cảng, bên cạnh mười thương gia và công ty của Pháp, Anh, Đức ta thấy có đến 14 công ty hoặc cá nhân Hoa kiều cùng ký tên. Và chính những người Hoa đã cung cấp lúa gạo cho các công ty Pháp, Anh.

Mãi đến năm 1906, thực dân đã củng cố thế lực mà đành thú nhận vốn đầu tư về thương mãi ở Nam Kỳ của Pháp chỉ là 9.487.700 frăn trong khi vốn của nước ngoài ở Nam Kỳ lên đến 39.418.560 frăn; người nước ngoài gồm: Hoa kiều, Đức kiều, Anh, Thụy Sĩ… Không thể nào nhà nước ước lượng được món tiền do các ngân hàng ở Hương Cảng, ở Singapore đưa cho bọn mại bản mua lúa ở tận miền đồng quê; tiền vào Nam Kỳ rồi trở lại, khi nhiều khi ít, theo đường lối bán chính thức bí mật; giữa bọn mại bản và tay em không có giấy tờ, biên nhận rõ rệt.(6) 

Thử xem những mặt hàng xuất khẩu năm 1863: lúa gạo, bao cà-ròn, cá khô, dầu dừa, muối, da trâu, da bò, sừng, xương trâu bò, chiếu, cau khô… thì ta thấy số lời to vì mua với giá rẻ mạt, tận gốc, gần như độc quyền. Các mặt hàng nhập khẩu cùng vào năm 1863: rượu chát, rượu mạnh, ngói, vôi, cuốc, xuồng, đồ hộp, tô chảo, giấy, thuốc Bắc, dụng cụ bằng sắt thép, đinh, pháo, hộp quẹt, đèn cầy, trái cây khô… gần như tất cả đều được bọn mại bản mua tích trữ rồi chạy mối bán khắp Nam Kỳ, lên tận Phnôm Pênh.

Hồi cuối thế kỷ XIX, vùng Bình Tây với nhà máy xay và chành lúa ngày càng phát triển để thu hút nhiều thợ máy, thợ phụ, phu khuân vác, lao công tạp dịch, những người bán rượu, bánh trái trên bờ hoặc dưới ghe xuồng. Lại còn bọn ghe chài từ Lục Tỉnh chịu vất vả đem lúa gạo từ Long Xuyên, Sóc Trăng, Cà Mau lên. Chủ ghe, thường là người Hoa. Mua lúa cả vùng rộn rịp, ngày đêm, người làm công luôn luôn thiếu hụt nếu ta lấy những con số sau đây làm cơ sở cho toàn Nam Kỳ:

– Trong vòng hai mươi năm, từ 1880 đến năm 1900, diện tích canh tác tăng gia từ mức 300.000 héc-ta lên đến 1.175.000 héc-ta.

– Số gạo xuất cảng, cũng trong vòng hai mươi năm nói trên tăng gia từ mức 300.000 tấn lên 750.000 tấn.

Nếu Sài Gòn là mặt ngoài sân khấu, thì hậu trường Chợ Lớn có bao nhiêu chuyện phức tạp, bừa bãi diễn ra thường trực ngày đêm: buôn lậu, lưu manh, làm hàng hóa giả, trộm cắp, cờ bạc, đĩ điếm. Bọn buôn lậu, chủ chứa, cai thầu hoạt động như những hội kín với ban liên lạc, tình báo, ám sát. Lính tuần thành (cảnh sát), lính kín (mã tà kín) kiêng nể chúng, ăn của đút lót rồi giả đui, giả điếc nếu không ra mặt tán trợ.

Vừa chiếm xong thành Chí Hòa, bọn cầm quyền cho thầu sòng bạc để bổ sung ngân sách, và làm cho dân chúng quên lãng tình hình chính trị. Nghị định ngày 26 tháng 7 năm 1861 cho phép tổ chức công khai sòng bạc ở Chợ Lớn. Đại khái, có nội quy thí dụ như cấm cờ bạc ngoài đường sá, cấm đàn bà trẻ con vào sòng, có nhân viên cảnh sát kiểm soát trật tự, định giờ mở cửa và đóng cửa nhưng chỉ là hình thức. Cuối năm 1861, lại cho phép mở rộng sòng bạc đến Sài Gòn, rồi năm sau cho phép ở các tỉnh miền Đông. Đi đôi với sòng bạc cho phép mở ổ mãi dâm.

Năm 1882, Thống đốc Nam Kỳ cho người Hoa mở riêng 16 nhà “xẹc” dành cho giới thương gia giải trí. Nên kể những danh từ ấy ra để hiểu thế lực của bọn thương gia người Hoa: nhà “xẹc” của bang Phước Kiến, của người Hoa mua bán từ Singapore đến, của người Hoa mua bán lúa gạo, của giới mua bán lúa gạo thuộc bang Quảng Đông ở Chợ Lớn, của thương gia thuộc bang Hải Nam, của giới bán lẻ Quảng Đông, của thương gia Triều Châu và Hẹ thuộc bang Triều Châu, của giới thầu và xay lúa ở Quảng Đông, của giới Hoa kiều làm mại bản gốc ở các nhượng địa Anh đến làm ăn ở Chợ Lớn, của giới chạy mối lúa gạo Quảng Đông, của giới mua bán gạo ở Phước Kiến. Có một nhà “xẹc” của giới kỹ nghệ An Nam. Những nhà giải trí này là nơi bàn bạc kế hoạch đầu cơ, thết đãi, lo hối lộ cho quan chức Tây, ta với đủ trò tứ đổ tường hạng sang. Bọn thực dân và tên Toàn quyền Đông Dương đã hiểu đó là ổ cờ bạc trá hình… luôn cả bọn hội đồng quản hạt – nhưng rồi đâu vào đó, có sửa đổi, hạn chế, ngăn cấm thì lại xuất hiện dưới hình thức khác.(7) 

Các sòng bạc hạng sang hoặc bình dân đều chú trọng vào trò “hốt me”. Dùng tiền điếu hoặc hột me mà hốt với cái chén đậy úp sau đó dở ra, lọc lại từng nhóm bốn hột, còn thừa một, hai, ba, bốn hột thì gọi những cửa yêu, lượng, tam, túc. Lúc đặt tiền, con bạc có thể cân nhắc, đánh cầu âu (chỉ đánh một cửa) hoặc đánh hai cửa. Tiền bạc của dân lao động và đám tiểu thương lần hồi lọt vào túi chủ sòng bạc Hoa kiều. Bọn này bày thêm những sòng bạc me lưu động vào làng quê, nơi thâu mua lúa gạo; tiền mà nông dân vừa bán lúa sau một năm làm lụng mệt nhọc trong phút chốác trở vào túi bọn đàng điếm. Nhiều hình thức cờ bạc khác, thí dụ như tứ sắc được các bà các cô hâm mộ. Còn nào bài cào, cách-tê, bài cu di, bông vụ, lúc lắc. Một loạt cờ bạc hấp dẫn là đề 36 con, mỗi ngày xổ một lần, đánh một trúng ba mươi con đề – một loại thú, côn trùng – đưa ra với câu thai mơ hồ, mặc sức cho con bạc bàn luận, tiên đoán theo lời “Ông thầy đề”. Hoặc căn cứ vào điềm chiêm bao, hiện tượng lạ xảy ra. Trong văn chương bình dân, lưu truyền bài phú đánh me, tế sống người bạn thua cờ, bài vè đánh đề (gọi đề cổ nhơn) nhằm đả phá, giải thích trò gian lận nhưng rốt cuộc không răn được ai.

Hồi những năm cuối thế kỷ thứ XIX, ở Chợ Lớn có bán loại giấy số phát hành từ Phi Luật Tân, hoặc “đề Trạng nguyên” xổ từ Hương Cảng.

Tên Việt gian được Pháp tin cậy nhất ở Chợ Lớn là Đỗ Hữu Phương, về sau lãnh Bắc đẩu bội tinh rồi Tổng đốc hàm (Pháp gọi hắn là viên tri phủ Chợ Lớn), sau những năm tháng đi đàn áp nghĩa quân, hắn chuyên về dọ thám và chiêu hồi, điềm chỉ được vài vụ quan trọng ở kinh Lò Gốm, Cần Giuộc, Bảy Núi, Sóc Trăng. Thủ khoa Huân từng được hắn bảo lãnh rồi qua mặt hắn. Ai muốn làm hương chức hội tề, làm cai tổng trong tỉnh Chợ Lớn cũng như mua đất, bán đất, cất nhà phố, mở hiệu buôn, cất nhà máy thì phải lo lót cho hắn vì hắn làm phụ tá cho tên “Xã Tây” ở Chợ Lớn.

Năm 1873, chợ Sài Gòn có 6.246 Hoa kiều, năm 1896 có 13.801 người.

Trong toàn cõi Nam Kỳ, năm 1896 tổng số Hoa kiều là 99.299, liên khu Chợ Lớn 41.588 người; bên cạnh đó, ở Chợ Lớn còn 80.061 người Việt. Thêm từ 15 đến 20.000 người Việt sống bềnh bồng, đi trên ghe thuyền, tạm trú trong thời gian ngắn.

Từ trước triều đình Huế ra lệnh cấm ngặt mọi hoạt động của hội kín nhưng không thâu kết quả như ý muốn. Người Pháp theo dõi, lúc đầu thì đánh giá rất thấp các hội “làm ăn” này. Trong nét lớn, hội kín, gọi tổng quát là Thiên Địa Hội của người Hoa chia ra nhiều nhóm. Tựu chung có hai nhóm nhiều thế lực: Nghĩa Hưng (kèo xanh) và Nghĩa Hòa (kèo vàng). Nghĩa Hưng của người Phước Kiến, Nghĩa Hòa của nhóm Triều Châu. Các hội này gây sức ép với bang trưởng Hoa kiều. Trên nguyên tắc pháp lý, người Hoa nhập cảnh phải nhờ bang trưởng bảo lãnh về hành động chính trị, về thuế vụ. Mặc nhiên, người Hoa tự nguyện hoặc bị bắt buộc tham gia vào hội kín để được giúp vốn, hướng dẫn làm ăn, khi bị lấn hiếp thì có người binh vực.(8) 

Hội kín hoạt động mạnh ở Chợ Lớn và các tỉnh đông đúc Hoa kiều như Sóc Trăng, Bạc Liêu, thỉnh thoảng đâm chém nhau, “dậy giặc chòm” khiến thực dân khó đối phó vì là chuyện nội bộ: giành bến chợ, giành trình diễn hát Tiều, hát Quảng, giành khu vực múa lân xin tiền vào dịp Tết. Nhiều người Hoa chứa chấp khí giới thô sơ, hội họp bí mật hoặc can tội trộm cướp nhưng nhờ uy thế của hội kín nên được các bang trưởng đứng ra bảo lãnh với luật sư và tiền đóng thế chân. Lại còn bọn người mang bùa, phái, sấm truyền về cuộc tận thế từ Trung Hoa đến, xưng là đại diện của hội nào đó để lạc quyên. Họ bán những nghiêng mực, ống giắt viết, tượng Phật bằng đá với giá cao, ngao du khắp Chợ Lớn, Lục Tỉnh rồi qua Xiêm, Miến Điện, Nam Dương.

Nhóm người Hoa ở Chợ Lớn bỗng dưng lại làm chính trị, thay vì chỉ biết đầu cơ thương mãi như lúc trước. Điều ấy khiến bọn mật thám chú ý. Tình hình ở Việt Nam trở nên rối ren với sự bất lực của triều đình Huế. Ở Bắc Kỳ quân Pháp đánh thành Hà Nội (1882), năm sau tên chỉ huy là Ri-vi-e bị quân Cờ Đen giết; giống như trường hợp trước đó, sau khi đánh Hà Nội lần thứ nhất là tên chỉ huy Gạc-ni-ê bị phục kích. Người của hội kín và bọn mại bản bèn loan tin quân Cờ Đen sắp tràn vào Sài Gòn – Chợ Lớn để chiếm luôn cả Nam Kỳ. Họ bày ra lạc quyên để chuẩn bị “nuôi binh”, thách thức công khai bọn mật thám. Nhưng giữa năm 1883, quân đội triều đình Huế cố tái chiếm Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định rồi để thất bại vì quân đội Trung Hoa không làm được gì hòng thay đổi tình thế. Bọn mại bản hoang mang vì sợ thực dân trừng phạt. Vào đầu tháng 7 năm 1883, 17 hiệu buôn và công ty lớn gặp nhau để nhận định tình hình rồi đưa ra biện pháp tiêu cực, nếu không nói đầu hàng vô điều kiện; bán tất cả tài sản, lây tiền mặt mua vàng để nếu bị trục xuất thì ra đi gọn gàng. Hoặc ở lại thì hiến tất cả tài sản cho nhà cầm quyền, rồi vào tòa bố Chợ Lớn trình diện, xin được bảo vệ tánh mạng(9) . Bọn cầm quyền Pháp không đánh mà thắng, gọi họ đến để trấn an và yêu cầu họ điềm chỉ những tên xúi giục đầu sỏ.

Pháp đánh cửa Thuận An, triều đình Huế chịu sự bảo hộ của Pháp với Hiệp ước 1883. Tên Toàn quyền Hạc-măn ra Bắc để bình định và sắp đặt bộ máy cai trị; viện binh từ Pháp tăng cường để đánh Sơn Tây, Bắc Ninh… Bọn mại bản ở Chợ Lớn vui mừng vì lại có dịp làm ăn theo chân quân đội Pháp. Tên Teng Keng Ho lập tức cho người đi nắm tình hình để xây cất kho hàng và chờ cơ hội đấu thầu hoa chi á phiện ở Hải Phòng, Nam Định. Lại trù liệu mua thêm vài tàu thủy để khai thác đường vận tải ở Bắc Kỳ; bấy giờ hắn có sẵn vài chiếc chạy trên đường Sài Gòn – Singapore.(10) 

Về ngành chuyên chở, vận tải đường sông, người Hoa kiều nắm ưu thế, dùng thủ đoạn cạnh tranh bất chính, thậm chí dùng võ lực để loại trừ các chủ tàu người Việt. (11) Hồi đầu thế kỷ XX, Công ty Thái Thuận với vốn liếng người Hoa, do A Hỉ cầm đầu có 30 chiếc chạy khắp đồng bằng sông Cửu Long, đến Phnôm Pênh (trong khi Công ty đường sông của Pháp rất nhiều thế lực có 44 chiếc).

Bắt chước theo tổ chức hội kín, một số người Việt bày ra Hội chùa, Hội miễu bày lạc quyên, ăn uống. Năm 1887 – 1888 thực dân tìm cách truy tố Hội vạn xe (vạn, theo nghĩa tổ hợp, xe ngựa đưa rước hành khách) ở Chợ Lớn, hội này toan nắm độc quyền về xe ngựa, tùy hứng định giá, hà hiếp hành khách. Bọn cầm đầu của Vạn kiểm soát các ổ mãi dâm, thâu thuế gánh hát bội trình diễn trong vùng, đánh dập và đâm chém những ai chống đối hoặc tố giác; trong xóm có thưa kiện thì phải nhờ chúng giải quyết.(12) 

Khu phố Chợ Lớn lần hồi chia ra từng hộ, như trường hợp Sài Gòn (Chợ Lớn gồm 20 hộ). Vào những năm 1886 thực dân đưa ra hình thức “dân chủ”: chức vụ hộ trưởng do dân bầu ra, nhưng quyền bầu chỉ dành cho người đóng môn bài hạng khá, hoặc chủ phố, hoặc công chức. Hộ trưởng có quyền thị nhận giấy tờ, góp ý kiến lên cấp trên. Làm hộ trưởng thì tha hồ ăn hối lộ, chứa cờ bạc, bao che buôn lậu, trộm cướp. Một số “nhơn sĩ” của Chợ Lớn từng là hộ trưởng rồi lên địa vị giàu có, hoặc nhờ giàu có rồi mua chức hộ trưởng để làm giàu thêm. Bốn tay giàu có nhất Nam Kỳ là Nhứt Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định. Ngoại trừ Sĩ làm giàu vì đất ruộng ở Tân An thì Phương (Tổng đốc Phương), Xường (Tường, Lý Tường Quan) và Định (Trần Hữu Định, người Minh Hương) đều từng làm hộ trưởng ở Chợ Lớn!

“Chợ Lớn là thuộc địa của người Hoa” đa số người Pháp ở Đông Dương đều nhìn nhận như thế. Thực dân Pháp dung túng cho họ theo sinh hoạt riêng, ưu đãi hòng chia rẽ để trị; đúng ra là dựa vào thế lực, vào tổ chức, óc thực dụng của tư sản thương nghiệp và mại bản người Hoa để khống chế giới điền chủ Việt đang lúng túng và giới tư sản Việt đang trở mình. Ở “thuộc địa Chợ Lớn”, người Hoa mang thái độ kỳ thị: tuyệt đối không mướn người Việt làm công ở những khâu quan trọng. Thợ mộc, thợ hồ, thợ máy chạy hơi nước (máy xay lúa hoặc tàu thủy), thợ tiện, thợ sửa máy móc thông dụng lúc đầu đa số là người Hoa từ Singapore, từ Hương Cảng đến. Số thợ này sống theo tinh thần phường hội, với cai thầu hoặc chủ xí nghiệp đóng vai “đại ca” đỡ đầu. Đến những việc làm mệt nhọc, không đòi hỏi kỹ thuật như vác búa, bọn cai thầu người Hoa cũng dành ưu tiên cho người Hoa, rồi mới đến người Việt.

Óc kỳ thị, tinh thần “phường hội” kềm hãm sự giác ngộ và mức tranh đấu của công nhân và lớp nghèo ở khu vực nhà máy xay, mặc dầu công nhân có sớm, sống tập trung. Về luật lệ làm ăn với nhau, giới thương gia người Hoa cố tránh giấy tờ phiền phức để nhà cầm quyền không thể kiểm soát được. Họ dùng nông lịch trong mọi giao ước, không phá giá, không giành thân chủ một cách bất chính, tin cậy nhau khi vay mượn nợ, mỗi sáng hay mỗi tuần đều họp tại tiệm quán để định giá mua vào, bán ra, còn lại giữ bí mật nghề nghiệp từ chuyện sửa chữa máy móc đến kỹ thuật ấp trứng vịt, làm trứng muối. Hoặc nghề làm bánh mì, làm bánh ngọt, nấu thức ăn theo kiểu Pháp, do chính người Pháp vì tin cậy nên truyền nghề cho họ.

Theo luật lệ người Pháp, người Hoa ở Nam Kỳ được quyền chuyển tiền bạc về Trung Quốc, chưa kể những thủ thuật bí mật. Họ kiêu hãnh khi làm được chuyện vơ vét đó; “Mã đáo thành công”, “Ngư ông đắc lợi” là những lời chúc mừng treo trên cửa hiệu. Họ xem Nam Kỳ là xứ của người “An Nam”. Trong giai thoại bình dân, có nhiều chuyện khôi hài đả kích bọn mại bản vong ân phụ nghĩa, đồng thời cũng đầy nhơn đạo đối với người Hoa sa cơ thất thế. Lý tưởng của thương gia Chợ Lớn là bắt đầu làm ăn với cái gióng, cái gánh, ngồi lề đường mua bán rồi vào tiệm, làm ông bang. Ăn cháo suốt ngày lúc mới qua Chợ Lớn, rồi bữa cháo bữa cơm, rồi ăn cơm, ăn cá ăn thịt, mua hầu thiếp trẻ tơ, hút á phiện vào những năm cuối cuộc đời.

Giới điền chủ Nam Kỳ, giới tiểu tư sản thành thị đã thấy cái tai họa ấy, từ những năm đầu thế kỷ XX. Phong trào Duy Tân ở Nam Kỳ, rồi phong trào “Tẩy chay Xinoa” diễn ra, chưa chi đã thất bại vì phía sau bọn mại bản là thế lực của thực dân Pháp, của đế quốc phản động.

Người Việt ở Chợ Lớn khá đông, sống bằng nghề hớt tóc, lao công vác búa, mua bán rong trên bộ, trên sông. Hoặc thợ phụ, bạn ghe chài từ Lục Tỉnh lên. Ngoại ô của Chợ Lớn là Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Đen, Chợ Đệm, Bình Điền. Hai cuộc khởi nghĩa đã xảy ra vào năm 1913 và 1916 với nông dân vùng Chợ Lớn, Tân An và lớp nghèo thành thị Sài Gòn, Chợ Lớn. Cầm đầu là Nguyễn Hữu Tri ở Cần Giuộc, với khẩu hiệu “giết Tây” đưa Phan Xích Long làm hoàng đế. Lần thứ nhất đêm 23 rạng 24 tháng 3 năm 1913 một số cơ quan của chính quyền Sài Gòn, Chợ Lớn bị đặt 8 quả bom nhưng bị phát giác. Rồi bốn hôm sau, có 600 người áo đen quần trắng, đeo bùa trừ súng đạn kéo vào nội thành, bị bắt, giải tán. Lần thứ nhì đêm 11 rạng 12 tháng 2 năm 1916, 300 người đồng phục như trước kéo vào Sài Gòn toan đánh phá dinh Thống đốc và Khám lớn. Tòa án quân sự Pháp xử bắn 51 người. Phong trào này lan rộng hầu hết các tỉnh Nam Kỳ, bị đàn áp thẳng tay.

Trong số người bị xử tử, bị đày không có người Hoa kiều. Phải đến ngày 30-4-1975 với chiến thắng mùa xuân, cái “thuộc địa Chợ Lớn” mới được thâu hồi vào lãnh thổ của Tổ quốc ta. Mọi lối làm ăn phi pháp, liên kết với bọn đầu cơ quốc tế từ đời chúa Nguyễn đã bị xóa bỏ tận gốc rễ. Tuy là đồng minh bóc lột, thực dân Pháp vẫn chưa nắm được tình hình và thực chất của bọn mại bản, gian thương, chưa làm được việc sơ bộ: nghiên cứu phía Chợ Lớn, về nguồn gốc bọn mại bản và lịch sử đường phố. Chỉ thấy giới thiệu các chùa miễu ở Chợ Lớn để thỏa mãn óc tò mò của du khách đang tìm giải trí.

Nhìn hơn trăm năm qua, ta thấy Chợ Lớn không bị tàn phá, khi Pháp đánh thành Gia Định, mại bản và tay sai từ năm 1866 đã cất lên được khoảng 500 ngôi nhà ngói. Năm 1870 chiều dài của khu phố Chợ Lớn là một ki-lô-mét rưỡi, chiều ngang một ki-lô-mét. Thực dân nuôi dưỡng lần hồi rồi qua chín năm kháng chiến chống Pháp, hai mươi năm chống Mỹ diện tích của Chợ Lớn lên gấp bốn, gấp năm, dài đến Phú Lâm, ăn lên Bình Thới – Phú Thọ, để xuống Kinh Đôi, với nhà nhiều tầng, xen vào những khu ổ chuột nheo nhóc…

Sơn Nam

————

Chú thích:

1/ GĐTTC. Sơn Xuyên Chí. Trấn Biên Hòa. Nên nói thêm: Các chủ thuyền Trung Quốc giỏi tính toán để trốn thuế. Họ bán lu hũ loại tốt nhưng khai là đem theo đựng nước uống, lúa dùng để chêm chén bát cho khỏi bể là lúa giống, mấy tảng đá dằng thuyền khi chạy buồm lại là cột nhà, kỳ lân chạm trổ sẵn để cất chùa. 

2/ GĐTTC, trấn Biên Hòa, cầu Tân Bản. Quân sĩ của Lý Tài rất hung hãn, ra trận đeo bùa phép, bắt hiếp dân “mổ bụng ăn gan và ăn cả thịt người, dữ tợn thái quá không đâu sánh kịp”. Vì vậy quân Tây Sơn truy nã đạo quân của Lý Tài đa số gồm người Hoa, xảy ra vụ đốt phá Biên Hòa rồi Chợ Lớn.

3/ Lần hồi, đến đời Tự Đức, vùng Chợ Lớn thêm nghề: xóm Giá, xóm Dầu (ép dầu phộng), xóm Lò Bún, xóm Te, xóm Rớ (đánh cá), xóm Lò Siêu, Rẫy Cải, Ụ Ghe… 

4/ Tham khảo bài “Tàu thuyền” của Sử Đức Bân. Báo ảnh Trung Quốc số 5 năm 1976 và Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa đã dẫn, trang 132 và 135. Theo G.Coedès, les Etats hinhân douisés d’Indochine et d’Indonésie, E. de Boccare. Paris, 1948, số thuyền to (bảo thuyền) là 62 chiếc, có thể đi theo hạm đội này 37.000 người. Trịnh Hòa chết năm 1435, sau đó, kế hoạch mở mang về phía biển chấm dứt.

5/ Hồ sơ ký số SL.3330 về Siu Bín Háp và SL.1996 về Trần Trứ. Văn thư lưu trữ, Sài Gòn.

6/ L’Indochine à l’Exposition coloniale de 1906, bản in của nhà nước.

7/ G.Durrwell, Ma chère Cochinchine, La Renaissance du Livre, Paris 1911, chương IX.

8/ Tham khảo hộp hồ sơ ký số F.14 năm 1875 đến 1906. Văn thư lưu trữ Sài Gòn. Lãnh tụ hội kín thù oán nhau từ Singapore, rồi đến Sài Gòn tiếp tục thanh toán.

9/ Tham khảo hồ sơ ký số SL.4432 và 4433 báo cáo của nhơn viên mật thám Sài Gòn những năm 1874 – 1887 và 1889 – 1885.

10/ Báo cáo nhơn viên mật thám ngày 8-3-1884.

11/ Lục Tỉnh Tân Văn, số 29, ngày 4-3- 1908 đăng bài Khổ vô sở tố, lên án thái độ hống hách của tư sản người Hoa và tay sai. Tàu của chúng đụng ghe người Việt thì bỏ chạy luôn, người bị chìm ghe trèo lên tàu thì bị đánh, đạp xuống sông. Tàu đò bất tuân luật lệ giao thông, ghe người Việt chạy buồm thì chúng vác củi (củi chụm nồi hơi nước) mà liệng vào rồi dùng sào đánh đập người coi lái ghe. Chúng làm chuyện sát nhơn, có bọn quan lại ăn hối lộ bao che. 

12/ Nguyễn Liên Phong. Điếu cổ hạ kim chi tập; nhà in l’Union, Sài Gòn, 1916 có nhiều tư liệu về số nhân vật hồi đầu thế kỷ XX. Xin trích một đoạn của “Nam Kỳ phong tục…” cùng một tác giả nói về Chợ Lớn: “Đàn bà vòng chuỗi chói ngời. Áo quần đẹp đẽ nói cười thanh bai. Phấn hương xông ướp dồi mài. Lên xe xuống ngựa sắc tài xuê xang. Lắm khi lãng phí chẳng màng. Gặp cơn bài bạc trăm ngàn sá bao. Đánh đề với đánh bài cào. Chẳng kiêng quốc cấm ra vào nghinh ngang. Du côn lắm kẻ bạo tàn. Chung quanh Chợ Lớn nhảy tràn đảng phe. Trong mình thích tự (xâm mình) không ghê. Củ chì, tay sắt, lưỡi lê dòm rình. Thừa cơ ngộ sự bất bình. Hừng hừng nổi giận đánh inh giữa trời. Rủi may sống chết như chơi. Coi nơi khám lớn ví nơi cửa nhà…”.

Sơn Nam

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.