Ung thư vú – Kiêng béo chưa đủ đâu!

Nguyên nhân dẫn đến ung thư vú làm giới khoa học nhức đầu: tuổi tác, chủng tộc, giới tính, di truyền,… Nhưng có điều lạ, các nước kém phát triển lại có tỉ lệ ung thư vú thấp hơn nhiều so với các nước phát triển. Điều này làm người ta nghĩ đến chế độ ăn uống có thể ảnh hưởng đến rủi ro cao ở bệnh ung thư phổ biến này.

Vũ Thế Thành

Còn tranh cãi nhưng vẫn ngại chất béo

breast-cancer-2

Ung thư vú là bệnh phổ biến ở phái nữ, tỉ lệ mắc bệnh rất cao ở các nước phát triển, nhưng lại thấp ở các nước kém phát triển. Theo báo cáo của tổ chức WHO về ung thư vú (năm 2020), thì hàng năm có trên 226.000 ca mắc mới, chiếm 11,7% trong tổng số ca ung thư. Ở Việt Nam, tương ứng là 21.555 và 25,8%.

Ăn nhiều chất béo có mối liên hệ với ung thư vú gây tranh cãi nhiều trong giới khoa học. Nhiều nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, cũng như dịch tễ học cho thấy điều này đúng. Nhưng nhiều nghiên cứu khác cho thấy ngược lại. Dù vậy không ai dám khuyên ăn dầu mỡ thoải mái, mà đành phải chọn giải pháp chắc ăn nhất: giảm dầu mỡ để giảm rủi ro ung thư vú.

Nhu cầu chất béo đóng góp vào calo hàng ngày tuỳ thuộc vào lứa tuổi (trẻ em nhiều hơn), khí hậu, và thói quen ăn uống. Ở xứ lạnh khoảng 35%. Còn ở vùng nhiệt đới khoảng 15-25%. Đây cũng là con số mà Bộ Y tế VN khuyến cáo.

Một nghiên cứu đáng nể về ung thư vú

Một công trình nghiên cứu kéo dài 20 năm, kết hợp giữa đại học Cornell, Oxford (Anh), và viện Y tế dự phòng Trung Quốc do giáo sư Campbell chủ trì, đã khảo sát 65 quận huyện khắp Trung Quốc, để tìm hiểu mối liên hệ giữa thói quen ăn uống (thịt, rau quả,…) và các bệnh thời đại (ung thư, tim mạch, tiểu đường,…). Các đối tượng nghiên cứu có đặc điểm gen tương tự nhau, trải qua nhiều thế hệ, cách sống, cách ăn uống cũng gần giống nhau ở từng khu vực khảo cứu. Nghiên cứu này có tên là “The China Study”, và được xem là công trình sáng giá nhất về mặt dịch tễ học.

Giáo sư Campbell cho rằng lời khuyên giảm ăn chất béo là chưa đủ. Mức ung thư vú thấp đáng kể ở Trung Quốc không đơn giản chỉ là họ ăn chất béo ít.

Trăm sự chỉ vì dậy thì sớm

Về ung thư vú, giáo sư Campbell đưa ra các nhận xét sau: thiếu nữ Trung Hoa bắt đầu có kinh nguyệt ở độ tuổi 15-19, trong khi thiếu nữ ở Mỹ sớm hơn, độ 10-14. Mức hormon sinh dục nữ estrogen trong máu của phụ nữ Trung Hoa cũng thấp đáng kể so với phụ nữ Mỹ.

Mức hormone nữ cao được cho là có liên quan đến rủi ro cao về ung thư vú.

GS Campbell cũng nhận thấy, thiếu nữ ăn nhiều thịt và ít rau quả củ thì chóng lớn (trưởng thành), và tuổi có kinh cũng đến sớm hơn. Điều này dẫn đến mức các hormone nữ như estrogen cũng cao bất thường. Mức hormone này vẫn tiếp tục cao chừng nào thói quen ăn uống của họ chưa thay đổi.

Nghiên cứu của Campbell cho thấy tỉ lệ ung thư vú ở Trung Hoa rất thấp, mặc dù mức chênh lệch ở các vùng khảo sát (đô thị hoặc nông thôn) có thể hơn kém nhau gấp 13 lần. Phụ nữ ở vùng nông thôn tiêu thụ chất béo rất ít, chỉ từ 6-24% mức đóng góp calo cho cơ thể, và thay vào đó là rau quả củ. Trong khi với phụ nữ Mỹ, mức chất béo tới 45%.

Giáo sư Campbell đi đến kết luận: giảm thịt/chất béo chưa đủ để giảm rủi ro ung thư vú, mà còn phải ăn thêm nhiều thêm rau củ quả.

Không đơn giản chỉ là chuyện ăn uống

Hormone nữ estrogen do buồng trứng tiết ra. Ở trẻ em, nếu estrogen tiết ra nhiều sẽ khiến trẻ dậy thì sớm, và sẽ có rủi ro cao ung thư vú sau này. Giáo sư Campell nhận định đúng về điều này, như kết quả của nhiều nghiên cứu trước đó. Quy mô khảo sát của ông ở Trung Hoa khẳng định điều này. Đó là điều đáng nể.

Tuy nhiên, vì sao estrogen nhiều ở trẻ để đưa đến dậy thì sớm lại không đơn giản chỉ quy chiếu vào chuyện ăn uống, nghĩa là giảm thịt, giảm béo, ăn thêm nhiều rau củ quả như khuyến cáo của GS Campell.

Sau này nhiều nghiên cứu cho thấy, nguyên nhân làm trẻ dậy thì sớm là do béo phì. Điều này được giải thích là do mô mỡ tiết ra hormone loại adipokines, tác động lên não, rồi kích thích buồng trứng của bé gái tiết ra hormone nữ estrogen, làm bé gái dậy thì sớm (*).

Chế độ ăn uống không hợp lý là nguyên nhân làm trẻ béo phì, Bên cạnh đó còn nhiều nguyên nhân khác cũng đáng lưu ý, đó là do ít vận động, bệnh lý, đột biến gen, di truyền,…

Đau hơn cái chết

Đàn ông cũng bị ung thư vú, khoảng 0,5-1% trong tổng số ung thư vú bệnh nhân ung thư vú. Ở Mỹ, khoảng trên 2.000 nam giới mắc bệnh, và hàng năm 450 ông phải lên…bàn thờ vì căn bệnh này. Còn ở Việt Nam, chưa có thông kê.

Giới khoa học chẳng ai ngó ngàng gì tới ung thư vú ở đàn ông. Mắc bệnh, đau đớn thì chữa, mà toàn là chuyện lỡ làng. Hội Ung thư Việt Nam cho biết, hơn 70% quý ông khi phát hiện thì bệnh đã ở giai đoạn 2 hoặc tệ hơn.

Chẳng có nghiên cứu nào, và cũng chẳng có khuyến cáo nào về tầm soát cho đàn ông về ung thư vú. Ai muốn thọ, thì theo lời khuyên dành cho quý bà: ăn giảm béo và nhiều rau quả củ.

Hai cái của nợ tí tẹo đó chẳng được cái tích sự gì cho đàn ông, mà lại mắc vạ chết. Thế mới đau!

Vũ Thế Thành

—————————

(*)

Association between Obesity and Puberty Timing: A Systematic Review and Meta-Analysis https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/29064384/

Obesity, estrogens and adipose tissue dysfunction – implications for pulmonary arterial hypertension https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7506791/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.