Tú Xương có thi chữ quốc ngữ hay không?

Thế Kỷ 21, số 20, đăng bài “Từ nghị định Doumer 1898 đến dụ Thành Thái 1906” của nhà nghiên cứu Bằng Vũ hàm ý trách tôi đã “phỏng đoán” Tú Xương chỉ “nghe phong thanh” chuyện cải cách khoa cử khi viết câu thơ:
“Bốn kỳ trọn vẹn, thêm kỳ nữa”

Nguyễn Thị Chân Quỳnh

Thi_huong 1

Lễ xướng danh khoa thi Hương ở trường thi Nam Định năm 1897. Ảnh: André Salles.

Nếu trong bài “ Địa vị chữ quốc ngữ và chữ Pháp hồi đầu thế kỷ XX” (Thế kỷ 21, số 18) tôi chỉ lược lại những tài liệu tôi đã đọc thì nay xin trích thêm để chứng tỏ chỉ từ năm 1909 ta mới thi chữ quốc ngữ.

Trích: “Le concours triennal du Tonkin pour 1909 a eu lieu à Nam Định du 6 novembre au 16 décembre, dans les conditions déterminées par l’arrêt du 30 mars 1908 “ (Khoa thi Hương ở Bắc kỳ năm 1909 tại trường Nam Định bắt đầu ngày 6.11 và kết thúc ngày 16.12, tổ chức theo nghị định ngày 30.3.1908).

Sau cái tựa dài dòng đến phần trích lại nghị định do J. Morel ký tại Hà Nội ngày 30.3.1908, được Bonhoure duyệt và ký ngày 3.4.1908. Ta thấy mỗi khoa gồm bốn kỳ thi bắt buộc, trong đó có môn thi quốc ngữ, và thêm một kỳ thi tình nguyện chữ Pháp. Bài vở sẽ được chấm từ 0 đến 20 điểm.

Tiếp đó là bài diễn văn của viên Thống sứ Bắc kỳ Simoni đọc bằng tiếng Pháp và được Án sát tỉnh Nam Định đọc lại bằng chữ Hán, trong có câu:

“ Grâce au quốc ngữ, la pensée occidentale peut être rapidement diffusée au Tonkin dans toutes les classes de la population. Ce concours comprendra donc une épreuve de langue annamite.

Avant peu d’années, tous les Annamites cultivés auront à cœur de parler le langage de la nation qui les protège ; c’est en vue de préparer cet avenir prochain qu’une épreuve de langue française facultative a été inscrite au nouveau programme.”

(Nhờ chữ quốc ngữ, những luồng tư tưởng Tây phương sẽ có thể truyền bá nhanh chóng ở Bắc kỳ đến mọi tầng lớp dân chúng. Vì vậy khoa này gồm có một kỳ thi bằng quốc ngữ.

Chẳng bao lâu, tất cả thành phần trí thức An Nam sẽ thích thú sử dụng tiếng của nhà nước Bảo hộ, chính vì để chuẩn bị cho một tương lai gần đây mà một bài thi tình nguyện bằng chữ Pháp đã được ghi vào chương trình mới).

Sau bài diễn văn đến chi tiết các đề mục khoa 1909 như tôi đã chép trong Thế kỷ 21, số 18. Về môn thi chữ Pháp có một câu tuy đã trích kỳ trước, nay xin trích lại vì nó nói rất rõ:

“ Cette épreuve facultative de français, de même que la troisième épreuve de langue annamite était une innovation car dans les précédents concours toutes les compositions étaient rédigées en chinois”. Kỳ thi chữ Pháp (tình nguyện) này cũng như kỳ thi trường ba bằng chữ quốc ngữ là một điều mới lạ vì trong các khoa thi trước tất cả mọi bài viết đều bằng chữ Hán).

Cho rằng một tài liệu này chưa đủ để tin, tôi xin nêu thêm Quốc Triều Đăng Khoa Lục của Cao Xuân Dục:

“ Khoa Canh Tuất, niên hiệu Duy Tân thứ tư (1910) “ (tức là Khoa thi Hội theo liền với khoa thi Hương 1909).

Lệ thi khoa này đổi định như sau:

Kỳ đệ nhất: 10 đạo văn sách, v.v.(như đã chép trong Thế Kỷ 21, số 18)… Khi chấm bài đổi phân ra điểm (1) kể từ 0 đến 20 điểm, quyển nào 10 điểm trở lên là hạng trúng…

… Kỳ đệ tam viết riêng bài luận chữ Nho ra một quyển, bài luận chữ quốc ngữ ra một quyển bằng giấy tây. Sau khi nộp quyển do Viện Đề Tuyển soạn cùng một hiệu, như quyển chữ Nho đánh số “ giáp nhất hiệu” thì quyển quốc ngữ cũng hiệu “giáp nhất hiệu” rồi mới rọc phách cả (2).

Quyển chữ Nho chiếu lệ các khoa trước, cũng do các viên lại phòng viết ngay ngắn phân minh ra rồi đệ giao các quan trường chấm(3). Quyển quốc ngữ không phải sao ra như chữ Nho, giao ngay cho các quan trường chấm.

… Các khoản khác đều theo lệ cũ.”

Nếu khoa 1910 không phải là khoa đầu tiên cải cách thi Hội thì Cao Xuân Dục đã không dành tới bốn trang rưỡi để ghi chú những chi tiết khoa này. Cứ xem những khoa trước và sau khoa Canh Tuất cũng thấy rõ:

— Khoa 1913: Cao Xuân Dục chỉ dành chưa đầy nửa trang để ghi những điểm đáng lưu ý của khoa này , có hai chỗ liên quan đến cải cách:

1) Các Cống sĩ làm văn thi kỳ đệ nhất và đệ tứ đổi dùng 5 đạo văn sách thôi…

2) Nguyên lệ trước đầu bài quốc ngữ ra bằng chữ Hán, nay Toà Khâm sứ bàn xin ra đầu bài cũng bằng quốc ngữ…(4).

– Khoa 1907: những đặc điểm khoa này chỉ gồm vỏn vẹn có mấy dòng: “ Kỳ thi Hội này viên Sử quán Tổng tài Cao Xuân Dục tâu xin, được Vua ưng, cho các Cống sĩ vào thi đóng vi lẫn lộn chứ không chia vi Giáp, Ất như trước (nguyên lệ trước các Cống sĩ quán từ Quảng Bình trở về Nam thì vào vi Giáp, các Cống sĩ quán tự tỉnh Hà Tĩnh trở ra Bắc thì vào vi Ất.(5)

Cả Quốc Triều Đăng Khoa Lục và Le concours triennal… đều cùng ghi tỉ mỉ, nhưng với tư cách một người đã từng nhiều phen làm khảo quan, Cao Xuân Dục chú trọng đến phép chấm thi, còn tác giả cuốn Le concours triennal… thì quan sát với con mắt một người ngoại quốc nên ghi chép đầy đủ các đề mục, ngày thi, số Thí sinh và số Tân khoa… Mỗi người nhìn theo một khía cạnh, ráp cả hai lại ta có một cái nhìn khá rõ về hai khoa cải cách đầu tiên.

Một bằng chứng nữa tỏ ra khoa 1909 mới bắt đầu thi quốc ngữ là con số Thí sinh trường Hà Nam khoa này sụt hẳn đi.

Theo Nguyễn Tuân (Chuyện Nghề) thì
Khoa 1891 có 9000 người dự
Khoa 1894 có 11000 người dự
(Le Petit Journal số 245: có 60 người đỗ)

Trong Bút Nghiên (trang 190) Chu Thiên đưa ra những con số sau:
Khoa 1889 có 7760 người
Khoa 1891 có 9772 người
Khoa 1894 có 11872 người

Theo Doumer
Khoa 1897 có 10000 người

Theo Le concours triennal… thì
Khoa 1909 chỉ còn có 3068 Thí sinh.

Tôi nghĩ sở dĩ Thí sinh trường Hà Nam khoa 1909 sút hẳn đi vì khoa này các thầy khoá lần đầu phải thi quốc ngữ (chữ Pháp là môn tình nguyện nên không kể) có nhiều người không chịu học chữ quốc ngữ bởi quốc ngữ do các giáo sĩ Tây phương đặt ra nên nhiều nhà Nho thiếu cảm tình với quốc ngữ, cho học quốc ngữ là “ vong bản,” là “ vọng ngoại,” v.v. thà bỏ hẳn thi cử. (Đây là một hi sinh to lớn vì các thầy Khóa trọn đời đi học chỉ cốt thi đỗ ra làm quan, nay bỏ thi tức là cắt hết đường tiến thủ).

Ngược lại, những khoa cuối thế kỷ 19, con số Thí sinh trường Hà Nam lại tăng vọt hẳn lên chỉ vì sĩ tử nghe phong thanh (6) sẽ có cải cách nay mai nên đổ xô nhau đi thi vớt mấy khoa cuối. Trung bình số người thi mỗi trường từ 3000 đến 5000, đặc biệt trường Hà Nam đông đảo hơn vì hợp thí hai trường Hà Nội và Nam Định. Tại sao lại hợp thí và phải ở Nam Định? Như tôi đã trình bày trong bài “Ai làm chủ khảo trường Hà Nam khoa Đinh Dậu? (Thế Kỷ 21, số 2) trường Hà Nội bị lính Pháp chiếm, phải đóng cửa, khoa cuối của trường Hà là khoa 1879.

Đến năm 1884, trường Nam Định bị quân Pháp đốt, chưa sửa sang kịp, lại nhân sĩ tử miền Bắc náo loạn phản đối hoà ước Giáp Thân (Patenôtre), nhà cầm quyền bắt các Thí sinh cả hai trường phải vào Thanh Hoá hợp thí, khoá này gọi là “ Khoá Thanh”, chỉ có trên 2000 người dự.

Mãi đến 1886, khi vua Đồng Khánh lên ngôi mới cho hai trường Hà Nội và Nam Định hợp thí ở Nam Định, sau vì loạn lạc thành lệ. Ta thường dùng lẫn lộn “trường Nam Định” với “trường Hà Nam”, nếu muốn phân biệt rõ thì “trường Nam Định” trỏ vào cái trường bằng gạch ngói ở ngoại thành Nam, còn “trường Hà Nam” trỏ vào đám sĩ tử của hai trường Hà Nội và Nam Định hợp thí tại trường Nam Định.

Theo nhà nghiên cứu Bằng Vũ thì “các thí nghiệm đem quốc ngữ và chữ Pháp vào các kỳ thi chỉ xảy ra đơn độc tại trường thi Nam Định,” những chi tiết tôi đưa ra trên đây đều thuộc trường Hà Nam, như thế không có gì là không ổn.

Tôi không được rõ nhà nghiên cứu Bằng Vũ dựa vào tài liệu nào khi viết trường Nam là “thí điểm độc nhất?” Theo Robert de la Susse thì chương trình cải cách được áp dụng cùng một lúc cả ở miền Trung.

Ngay trang đầu Robert de la Susse đã nói rõ ông chỉ cho biết những chi tiết ở các trường miền Trung chứ không viết về trường Nam Định: “La note qui va suivre… ne vise que les concours ayant lieu en Annam. Je ne suis donc entré dans aucun détail concernant le concours de Nam Định.”

Trang 4 viết về trường thi ở Huế: “Le concours se compose de quatre épreuves… des dissertations en caractèresdes sujets de quốc ngữ obligatoires et un sujet de français facultatif encore en 1912 “. (Khoa thi gồm bốn trường… chữ Hán và chữ quốc ngữ là những môn thi b?t buộc, chữ Pháp mãi đến 1912 cũng vẫn còn là môn thi tình nguyện). Chữ “ encore” chứng tỏ trước khoa 1912, ít nhất cũng có một khoa mà chữ Pháp là môn thi tình nguyện ở trường Thừa Thiên.

Vấn đề khó giải quyết là biết rằng đến 1909 mới bắt đầu thi quốc ngữ và Tú Xương mất từ hai năm trước (1907) tại sao lại có bài “ Cũng đi thi” khiến người đọc có thể hiểu Tú Xương đã thi quốc ngữ ?

Cũng đi thi

Tấp tểnh người đi, tớ cũng đi,
Cũng lều, cũng chõng, cũng đi thi.
Tiễn chân cô mất hai đồng chẵn,
Sờ bụng thầy không một chữ gì!
Lộc nước còn mong thêm giải ngạch;
Phúc nhà may được sạch trường quy.
Bốn kỳ trọn vẹn thêm kỳ nữa,(7)
Á, ớ, u, ơ, ngọn bút chì.

Đọc bài này ta có thể hiểu, trong một khoa nào đó không chua rõ, Tú Xương đã thi cả năm trường, trong có môn thi quốc ngữ, và lần này đặc biệt được “sạch trường quy.” Dựa vào bài thơ, nhà nghiên cứu Bằng Vũ đã phản đối khi tôi phỏng đoán rằng Tú Xương chỉ “nghe phong thanh” chuyện cải cách, và viết: “Tôi luôn luôn kính trọng Tú Xương và nghĩ ông không phải con người nhìn “ vỏ dưa” ra “vỏ dừa.” Từ trước tới nay, các nhà nghiên cứu đã có chê Tú Xương về một số mặt, nhưng tuyệt nhiên chưa thấy ai trách nhà thơ hiện thực này “nghe phong thanh” một sự việc rồi gắn việc đó vào bàn chân ông. Sự việc ông dự một kỳ thi Hương “bốn kỳ trọn vẹn,” lại đèo “thêm kỳ nữa,” ông đã trung thực ghi nhận như các văn bản xưa cũ nhất đã sao chép.”

Trước hết, đối với tôi, “những văn bản xưa cũ nhất” chưa hẳn đã chắc chắn sát với nguyên bản nhất. Nếu quả thế thì các học giả Đông Tây còn mất công nghiên cứu mọi văn bản để hiệu đính làm gì?

Thêm nữa, vì “kính trọng” Tú Xương mà tin ông đã “trung thực ghi nhận”… theo tôi là một lập luận dựa trên tình cảm, không phải trên những bằng chứng cụ thể.

Vì nhà nghiên cứu Bằng Vũ tin chắc chắn Tú Xương đã đi thi quốc ngữ, bằng vào bài thơ “Cũng đi thi,” ta chỉ việc xét trong ba khoa thi Hương Tú Xương đã dự sau khi nghị định Doumer ra đời và trước khi nhà thơ mất (cũng dựa vào văn thơ của Tú Xương) xem có khoa nào nhà thơ thi cả năm kỳ, lại “sạch trường quy” hay không thì biết. Ba khoa ấy là 1900, 1903 và 1906. Tôi đã soát lại, nếu Tú Xương đi thi từ năm 15 tuổi thì đến 1906 là vừa đúng tám khoa, trừ phi có ân khoa. Ba khoa kể trên cùng dưới thời Thành Thái và theo các tài liệu tôi được đọc thì không có ân khoa nào.

– Khoa 1900 bị loại ngay vòng đầu, nhờ những chi tiết rất rõ rệt trong bài “ Phú hỏng thi khoa Canh Tý “ (1900). Bài này khá dài, tôi chỉ xin trích những câu có liên quan đến vấn đề thi hỏng của Tú Xương.

… “Năm vua Thành Thái mười hai (1900)
Lại mở khoa thi Mỹ Trọng.
Kỳ đề tam văn đã viết rồi,
Bảng đệ tứ chưa ra đã ngóng.

Nào ngờ
Bảng nhỏ thấy tên,
Ngoại hàm còn trống…

Tức là khoa này Tú Xương chỉ vào được đến tam truờng là hỏng. Khi xem bảng để vào thi kỳ đệ tứ thì thấy tên mình trên “ bảng nhỏ “. Tên nêu lên “ bảng nhỏ “ có nghĩa là không những Tú Xương không “sạch trường quy” mà còn phạm trường quy và lỗi rất nặng, lỗi nhẹ chỉ bị đánh hỏng thôi, không bị nêu tên ra bảng con. Vừa bị phạm trường quy, vừa không được thi kỳ đệ tứ, dĩ nhiên không phải Tú Xương viết bài “ Cũng đi thi” năm 1900.

– Khoa 1903, Quý Mão, xin xem bài:

Phận hẩm duyên ôi
Trách mình phận hẩm lại duyên ôi,
Đỗ suốt hai trường, hỏng một tôi !
“Tế” đổi ra “Cao” mà chó thế !
“Kiện” trông ra “Tiệp” hỡi Trời ơi…

Theo Bảo Vân, vì thi hỏng mãi, năm 1903 Tú Xương đổi chữ lót “Tế Xương” ra “Cao Xương” nhưng vẫn hỏng (8).

Câu “Đỗ suốt hai trường, hỏng một tôi” cho thấy Tú Xương hỏng ngay từ trường hai vì đã nhầm chữ “Kiện” với chữ “Tiệp”, như thế tức là Tú Xương không thi 5 trường và cũng không “sạch trường quy” khoa 1903.

– Khoa 1906 (Bính Ngọ). Ai cũng biết Tú Xương lận đận với thi cử chỉ vì không thuộc trường quy, nhờ câu thơ:

“Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy!”
(Buồn vì hỏng thi)

Câu này cho thấy ít nhất khoa thứ 8, Tú Xương lại phạm trường quy một lần nữa, mà khoa thứ tám chính là khoa Bính Ngọ (1906) vì Tú Xương chỉ thi tất cả có 8 khoa.

Nếu cho rằng lập luận này không vững, và tin là Tú Xương đã thi cả năm trường và “sạch trường quy” khoa này, vậy thì một người “nổi tiếng tài hoa” như Tú Xương, lẽ ra không đỗ Cử nhân, cũng phải đỗ Tú tài, dù là Tú tài đội bảng như năm 1894, đằng này Tú Xương hiển nhiên không phải là “ông Cử” mà cũng không ai gọi ông là “Tú kép,” hoá ra bài làm dở lẮm hay sao? Bảo Tú Xương làm bài “dở,” tôi nghĩ tội còn nặng hơn là nói Tú Xương dùng óc tưởng tượng “vẽ” cảnh mình đi thi quốc ngữ. Các văn, nghệ sĩ đều là những người có óc tưởng tượng rất phong phú và rất cần đến óc tưởng tượng khi sáng tác. Nói Tú Xương nghe “phong thanh” chuyện cải cách rồi viết bài thơ “Cũng đi thi” tôi không nghĩ là đã thiếu kính trọng hay xúc phạm đến danh dự nhà thơ. Huống chi Tú Xương đã từng thực sự “nghe phong thanh” mà làm thơ:

Nghe nói khoa sau sắp đổi thi,
Các thầy đồ cổ đỗ mau đi.
Nếu không bia đá còn bia miệng,
Vứt bút lông đi, giắt bút chì. (9)

Giờ xin bàn đến vấn đề Tú Xương có luôn luôn ghi nhận “trung thực” hay không. Nếu ta có thể tin Tú Xương “trung thực” trong câu:

“Ví phỏng chăm nghề nghiên bút thì mười ba, mười bẩy đỗ những tự bao giờ”
(Phú hỏng thi khoa Canh Tý)

thì ta cũng có thể đánh dấu hỏi khi Tú Xương viết:

… Cao lâu thường ăn quỵt,
Thổ, đĩ lại chơi lường…”
(Tự vịnh)

Đến bài:

“ Hán tự chẳng biết Hán”…

thì không cần phải đánh dấu hỏi cho mất thì giờ, hiển nhiên Tú Xương biết chữ Hán. Lại đến bài:

“Ngày mai tớ hỏng tớ đi ngay…”

rõ ràng nhà thơ nói ngoa, thi hỏng xong vẫn nằm nhà chứ không hề “sang Tầu” và cũng chẳng “tếch sang Tây”.

Nhà thơ cũng đã có lần công nhận ra miệng là mình viết chuyện tưởng tuợng:

“ Ông trông lên bảng thấy tên ông,
Ông nốc rượu vào, ông nói ngông:
Trên bảng, 52 thầy Cử đội,
Bốn kỳ, mười bẩy cái ưu thông…”

Trung bình mỗi trường thi lấy 50 người đỗ Cử, nếu khoa ấy vua “gia ơn” cho lấy thêm ba người nữa (Tú Xương đỗ thứ nhất, 52 người kia phải đội ông) thì bốn kỳ Tú Xương cũng không thể có được mười bẩy cái “ưu thông” bởi mỗi kỳ chỉ có bốn khảo quan chấm: Sơ khảo, Phúc khảo, Giám khảo (Nội trường) và Chánh, Phó Chủ khảo hay Phân khảo (Ngoại trường) dù cho ai cũng phê bài của ông “ưu” thì ông cũng chỉ lĩnh được có mười sáu cái “ưu thông” chứ không thể có “mười bẩy” cái được.

Bài này có thể bảo tại Tú Xương đùa, nhưng còn bài:

“Nào có ra gì cái chữ Nho?
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co!
Chi bằng đi học làm thầy Phán,
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò.”

Ai đọc mà chẳng tưởng Tú Xương đã sống dưới thời Khoa cử tàn rồi? Thật ra Tú Xương mất từ năm 1907, mà khoa thi Hương cuối cùng ở miền Bắc là khoa 1915, và khoa thi Hội cuối cùng là khoa 1919.

Tóm Lại, nhà nghiên cứu BằngVũ có quyền tin Tú Xương đã thực sự đi thi quốc ngữ, tôi cũng có quyền tin đến 95% Tú Xương chưa kịp đi thi quốc ngữ đã mất, 5% còn lại xin hẹn khi nào có thêm tài liệu sẽ công bố, dù tài liệu đó chứng tỏ tôi sai lầm.

Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Châtenay-Malabry, tháng giêng, 1991

(Thế kỷ 21, số 23, tháng 3, 1991)

Nguồn: chimviet.fr

Chú thích

(1) – Dưới triều Nguyễn, lúc đầu thi Hội chấm cũng lấy các hạng ưu, bình, thứ v.v…như thi Hương. Từ 1829, đổi ra lấy phân số, tức là đỗ “ưu” được 9, 10 phân, ” ưu thứ ” được 7, 8 phân, v.v. Đến 1910 lại đổi ra chấm lấy điểm từ 0 đến 20.
(2) – Rọc phách là đánh dấu trên tờ đầu quyển thi rồi gập đôi lại, xé ra lấy nửa có mang tên họ Thí sinh cất đi, cái ấy gọi là cái phách. Khi quyển thi chấm xong, đem ráp lại với phách thấy đúng khớp là biết tên họ tác giả. Rọc phách cốt để khảo quan chấm thi cho công bình.
(3) – Cũng vì muốn khảo quan không nhận ra tự dạng các Cống sĩ thi Hội nên quyển thi được các “ông Nghè bút thiếp” sao lại rồi đưa cho khảo quan chấm bản sao. Những “ông Nghè bút thiếp” này chưa từng đỗ ông Nghè, mà chỉ là những người viết chữ đẹp, ngay ng?n, rõ ràng, nên được chọn làm công việc sao lại quyển thi của những ông Nghè tương lai.
(4) – Đề mục kỳ trước bằng chữ Hán, Thí sinh cũng viết bằng chữ Hán rồi phiên âm ra quốc ngữ khiến những người Pháp chấm bài, không biết chữ Hán, không hiểu. Lần này Tòa Khâm yêu cầu ra đề bằng chữ quốc ngữ.
(5) – Đây là một trong những “kỳ thị” của nhà Nguyễn đối với sĩ phu miền Bắc. Miền Nam, miền B?c thi riêng, có đầu bài riêng và cách chấm cũng khác nhau.
(6) – Chuyện sĩ tử “nghe phong thanh” là chuyện có thật, xin xem Chuyện Nghề của Nguyễn Tuân viết về khoa Đinh Dậu (1897).
(7) – Bài này tôi chép theo Bảo Vân, chỉ đổi câu 7 từ “Ba kỳ” ra “Bốn kỳ” cho hợp ý nhà nghiên cứu Bằng Vũ, tôi chưa từng nghiên cứu về Tú Xương nên không có ý kiến.
(8) – Bảo Vân, sđd, tr. 125
(9) – Lãng Nhân, Giai Thoại Làng Nho Toàn Tập, tr. 762

Sách tham khảo

– Bảo Vân, Thơ nôm Yên Đổ, Tú Xương, Canada: Quê Hương, 1980 ?
– Cao Xuân Dục, Quốc Triều Đăng Khoa Lục, Saigon: Bộ Quốc Gia Giáo Dục, 1962
– Chu Thiên, Bút Nghiên, Đại Nam tái bản ở Mỹ
– Paul Doumer, L’Indo-Chine française (Souvenirs) Paris: Vuibert et Nony, 1905
– Lãng Nhân, Giai Thoại Làng Nho Toàn Tập, Saigon: Nam Chi Tùng Thư, 1966, tái bản ở Mỹ
– Le Concours triennal du Tonkin pour 1909, Hanoi-Haiphong, Imprimerie d’Extrême-Orient
– Nguyễn Tuân, Chuyện Nghề, Hà Nội: Tác phẩm mới, 1986.
Robert de la Susse, Les Concours littéraires en Annam. Extrait de la Revue Indochinoise n° 2 Février 1913, Hanoi-Haiphong, Imprimerie d’Extrême-Orient.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.