Các vua Hùng có thực không?

Hùng Vương là một nhân vật xét kỹ không có thực. Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hùng Vương đều không hề tồn tại trên cõi đời này. Ngay danh xưng Hùng Vương cũng không hiện thực khi tới thời Chiến Quốc mới ra đời chữ Vương.

Nguyễn Gia Việt

Hùng Vương

Trước 1975 lễ lớn ở khu Sở Thú là lễ “Thánh đản Đức Khổng Tử”chứ không phải “Giỗ tổ Hùng Vương”.

Người Việt Nam hiện đại là kết quả sự kết hợp giữa hai phân chủng Lạc Việt và Âu Việt trong đại chủng Austronesia.

Ta hay xếp bộ lạc Âu Việt bà Âu Cơ đại diện mẫu hệ là tiên sống ở núi non,cao nguyên và loài ở nước, tượng trưng cho đồng bằng là Lạc Việt,Lạc Long Quân đại diện. Nên hiểu đây là hai hình tượng do dân Vệt tự tạo ra để làm đẹp về cội nguồn xa xưa của mình

-Nguồn gốc Hùng Vương là mơ hồ

Theo “thần thoại” Kinh Dương Vương là cháu ba đời của vua Thần Nông, vua nước Xích Quỷ. Kinh Dương Vương lấy Nữ Thần Long ở Động Đình Hồ sanh ra Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân kết duyên với Âu Cơ sanh ra bọc Rồng trăm trứng, nở trăm chàng trai, người con cả là Hùng Đoàn được cha truyền ngôi, phong là Hùng Quốc Vương, thành lập ra Nhà nước Văn Lang

Họ Hùng là cháu ba đời của Thủy tổ Kinh Dương Vương (họ Hồng Bàng) truyền được 18 đời… trong 2.622 năm,một con số không thực

Các thư tịch cổ Việt ghi chép về Kinh Dương Vương và họ Hồng Bàng mà hiện nay chúng ta được biết đều là những sách được viết ra sớm nhứt là từ thế kỷ 14 như: Việt điện u linh (thời Trần 1329); Việt sử lược cũng thời Trần khoảng 1377

“Đại Việt sử lược” (Việt sử lược) có tác giả vô danh thời Trần là tác phẩm sử học cổ nhứt của Việt Nam. Sách Việt sử lược ghi ngắn gọn về thời kỳ Hùng Vương như sau:

“Đến thời Trang Vương nhà Chu (692 – 682 TCN) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang. Phong tục thuần hậu chất phác, chính sự dùng nối kết nút – truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương”

Câu chuyện của bà Âu Cơ cùng Lạc Long Quân được ghi lại như một truyền thuyết, thần thoại trong chương đầu tiên của Lĩnh Nam Chích Quái.

Sách Lĩnh Nam chích quái có lẽ là văn bản sớm nhứt ghi chép chuyện về Âu Cơ được ghi trong thiên Hồng Bàng Thị truyện ngay phần đầu tiên. Sách Lĩnh Nam chích quái biên soạn vào năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 10 (1479) đời Lê Thánh Tôn,có nguồn nói hồi năm 1492 thuộc đời Hậu Lê cũng của hoàng đế Lê Thánh Tôn.

Cái thuyết Hùng Vương là thuyết tuyên truyền, tuyên giáo của triều đình nhà Lê hồi xưa nhằm đề cao lòng ái quốc thương nòi.

Truyền thuyết Âu Cơ lần đầu từ truyền thuyết mơ hồ được xem như chánh sử và ghi lại như một bản kỷ trong “Đại Việt Sử ký Toàn thư ” của Ngô Sĩ Liên thời Lê Thánh Tôn

Ngô Sĩ Liên là sử gia đầu tiên đưa truyền thuyết Hồng Bàng vào bộ quốc sử Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, coi Kinh Dương Vương là “vị vua đầu tiên của nước Đại Việt”, tức coi nước Xích Quỉ là nước đầu tiên của người Việt Nam. Ông xác định nước Xích Quỉ ra đời vào năm 2878 TCN (?!).

Ngô Sĩ Liên còn tưởng tượng ra trăm trứng,trăm con từ biệt mà đi. Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang .

Đại Việt Sử ký Toàn thư của Ngô Sĩ Liên gần như xóa đi chi tiết câu chuyện trong Lĩnh Nam chích quái. Ngô Sĩ Liên còn tưởng tượng ra Lạc Long quân “hỏi cưới” Âu Cơ nữa. Nhưng sử gia Ngô Sĩ Liên cũng ghi là :“dĩ nghi, tồn nghi”(Còn mơ hồ,cần xét,bàn lại sau)

Cái truyền thuyết Âu Cơ-Lạc Long Quân lại là một mô típ rất giống một truyện Tàu đời Đường.

Chúng ta hãy để ở trên để biết rằng Âu Cơ xuất hiện ở Việt Nam sớm nhứt là trong “Đại Việt sử lược” (Việt sử lược) có tác giả vô danh thời Trần 1329.

Trong khi “柳毅传 Liễu Nghị truyện” hay” Động Đình tình ký” của Tàu do Lý Triều Uy sáng tác vào đời Đường Cao Tôn (649-683) trước thời Trần hơn 500 năm. “Liễu Nghị truyện “có câu chuyện như sau:

Liễu Nghị là một nho sanh thời Đường Cao Tôn, thi rớt trên đến chào một người bạn trọ ở Kinh Dương 泾阳, đi đến Đồng Dã 桐野, gặp một thiếu phụ chăn dê là con gái nhỏ của Long vương hồ Động Đình.Hai người lấy nhau sau đều trở thành thần tiên, thường xuất hiện ở vùng hồ Động Đình trong các huyền thoại nơi này.

“Liễu Nghị truyện ” từng được “Lĩnh Nam Chích Quái sử dụng”.  

“Đại Việt sử ký toàn thư” Ngô Sĩ Liên đã đưa truyện họ Hồng Bàng từ Lĩnh Nam chích quái vào chánh sử,tuy nhiên ông cũng viết thẳng là nó có xuất xứ từ tích truyện Liễu Nghị như sau:

“Xét: Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi”( Đại Việt sử ký toàn thư trang 133).

Ngô Sĩ Liên léo lắt ở chổ Liễu Nghị truyện nó sự việc xảy ra vào thời Đường, còn Toàn thư dẫn Đường kỷ lại nói sự việc xảy ra vào “thời Kinh Dương”. Trong Đại Việt sử kí Tiền biên (in năm 1800), Ngô Thì Sĩ nói thẳng rằng:

“…Thời Ngũ Đế trở về trước thì chưa từng gọi là vương. Xích Quỷ là tên nào, mà lại để làm tên nước. Một loạt hoang đường càn rỡ đều là đáng bỏ đi.

Cái lỗi ấy lại tại kẻ hiếu sự thấy trong Liễu Nghị truyền thư. Trong truyện nói con gái vua Động Đình gả cho con thứ của Kinh Xuyên Vương, tưởng càn Kinh Xuyên là Kinh Dương. Đã có vợ chồng thì có cha con, vua tôi, nhân đó mà thêu dệt thành văn, cốt cho đủ số đời vua, nhà làm sử theo đó mà chọn dùng, và cho đó là sự thực”

Tức ông Ngô Thì Sĩ công nhận sự ảnh hưởng của Liễu Nghị truyện vào truyền thuyết Hồng Bàng,Âu Cơ,Hùng Vương và những nhân vật này là do sử gia chế tác ra

Nói tới đây chúng ta rung rinh, thiệt mơ hồ cho bà Âu Cơ, ông Lạc Long Quân và Hùng Vương. Hùng Vương chánh thức được “sử Việt” vinh danh ,xuất hiện năm 1492 thời vua Lê Thánh Tôn. Quốc Sử quán triều Nguyễn khẳng định luôn:

“Vâng tra sử cũ, danh xưng Kinh Dương vương, Lạc Long quân trong “Hồng Bàng thị kỷ”, vốn từ thời thượng cổ, thuộc thuở hồng hoang, tác giả căn cứ vào cái không và làm ra có, sợ rằng không đủ độ tin cậy, lại phụ hội với”Liễu Nghị truyện” của nhà viết tiểu thuyết đời Đường, lấy đó làm chứng cứ. ”(Cương mục tờ 9b-10a, 1856 – 1883)

Vua Tự Đức thì bác Lạc Long Quân , Kinh Dương Vương, Âu Cơ nhưng châm chước lấy Hùng Vương. Vua Tự Đức phán:

“Hai vua Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân phần nhiều thuộc chuyện thần rắn quỷ trâu, bảo lưu mà không bàn luận, là được

Chuẩn cho coi Hùng Vương là vua mở đầu quốc thống. Ôi! Kinh Dương thuộc đất Tần, Động Đình thuộc đất Sở, có quan hệ gì với ta đâu! Sao có thể coi Truyện Liễu Nghị đời Đường thuộc dòng tiểu thuyết là đủ tin cậy được’”

Chí sĩ Phan Bội Châu trong cuốn “Việt Nam quốc sử khảo” có bàn về chuyện”Ai là Tổ nước ta? Người ta với sử nước ta “ hồi 1934 viết thẳng thừng :

“…Sử nước ta từ đời Thái cổ trước Tây lịch 2879 năm cho đến sau Tây lịch 111 năm, tất thảy là việc truyền văn: bảo rằng Hồng Bàng thị mà không biết có Hồng Bàng thị hay không, bảo rằng Lạc Long Quân mà không biết có Lạc Long Quân hay không.

Bởi vì lúc đó nước ta chưa có văn tự, chưa có sử sách, chỉ theo ở miệng truyền tai nghe

Nói rằng: người đẻ ra trăm trứng, nửa thuộc về loài rồng, nửa thuộc về loài tiên, cứ theo sinh lí học mà suy ra, thiệt là theo lối thần quỷ mê tín, không đích xác gì.

Đến như Hùng Vương 18 đời, thời cũng thảy truyện truyền văn, chớ không biết có thiệt không. Qua đời Hùng Vương mà đến An Dương Vương là người nước Ba Thục. Sau đời An Dương Vương tiếp lấy Triệu Võ Đế, tức là Triệu Đà….

Sách xưa có câu: ‘Vô trưng bất tín’, nghĩa là không có chứng cớ thì không lấy gì làm tin được. Sử nước ta trở về trước nhiều điều vô trưng, thời bỏ quách đi e có lẽ đúng hơn…”

Học giả Dương Bá Trạc (1884-1944) là một người Nho gia Việt chánh gốc viết :

“…Sử cũ chép năm 2862 trước Thiên Chúa giáng sinh, cháu thứ ba đời vua Thần Nông nước Tàu tên là Đế Minh đi tuần phương nam đến Ngũ lĩnh lấy bà Vụ Tiên, sinh vua Kinh Dương, vua Kinh Dương sinh vua Lạc Long, vua Lạc Long lấy bà Ẩu Cơ sinh trăm con giai, ấy là tổ trăm đất Việt; lấy thế làm gốc giống người Việt Nam thì nói hoang đường quá; chẳng qua lúc đầu mờ mịt, mới đặt để ra những truyện thần quái, khoe người mình là giống thánh nòi tiên; có lẽ nào một người mà đẻ ra trăm con, rồi sinh sản ra khắp được cả nước; câu ấy thật không đủ tin…”

Phan Bội Châu không nghĩ rằng Hùng Vương là có thực, phủ nhận sự tồn tại của Hùng Vương. Cái thuyết Hùng Vương là thuyết tuyên truyền,tuyên giáo của đời Hậu Lê hoàng đế Lê Thánh Tôn hồi xưa nhằm đề cao lòng ái quốc ái thương nòi

Tức trước đó thời Lê Lợi ,thời “Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập” không hề có khái niệm Hùng Vương. Lê Thánh Tôn trị vì từ tháng 6 năm 1460 đến tháng 3 năm 1497.  Thời kỳ cai trị của ông vua này có thể gọi là nước giàu binh mạnh. Đặc biệt vương quốc Chàm ná thở với ông.

Năm 1471 vì vua Chàm Bàn La Trà thân hành đem hơn 10 vạn quân thủy bộ cùng voi ngựa đánh úp Châu Hóa chiếm vùng đất này của Việt,lại dựa vào nhà Minh của Tàu làm càn,vua Lê Thánh Tôn đích thân cầm đại quân 250.000 người san bằng thành Vijaya Đồ Bàn bắt sống 3 vạn người, chém 4 vạn thủ cấp, bắt sống Trà Toàn rồi đem quân về.

Tháng 6, lấy đất Chàm đặt làm Thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa. Đặt chức án sát sứ ở 12 thừa tuyên và đặt 3 ty ở Quảng Nam . Vua Lê Thánh Tôn đuổi tàn quân Chàm vào tới đèo Cả rồi rút về ,sau đó đèo Cù Mông làm biên giới giữa Chàm và Việt. Hận Đồ Bàn từ đó mà ra

Minh sử – An Nam truyện của Trung Quốc có chép:

“Hạo (tức Lê Thánh Tôn) kẻ hùng kiệt, tự phụ nước giàu binh mạnh, liền tự cao tự đại

Năm thứ tư (1468) đánh chiếm Bằng Tường, Quảng Tây. Hoàng đế nghe tin, lệnh cho quan trấn thủ cẩn thận phòng bị. Năm thứ bảy (1471) phá Chiêm thành, bắt vua Chăm Bàn La Trà Toàn, 3 năm sau lại đánh phá, bắt vua Chăm Bàn La Trà Duyệt, đổi nước ấy thành châu Nam Giao, đặt quân trấn thủ…

Hạo đã được Bằng Tường, diệt Chiêm thành, liền xâm phạm Quỳnh châu, Lôi châu, trộm đất Châu Trì ở Quảng Đông. Các vùng Long châu, Hữu Bình ở Quảng Tây, Lâm An, Quảng Nam, Trấn An ở Vân Nam cũng mấy lần cấp báo. (Hoàng đế) chiếu lệnh cho quan trấn thủ cật vấn, lại dùng lời lẽ xảo quyệt đối đáp. Việc miếu đường tạm ngơi nghỉ, tuy xuống sắc dụ nhiều lần nhưng không có lời nào nghiêm khắc”

Tức là Lê Thánh Tôn đập Tàu luôn mà nhà Minh ngậm bồ hòn làm ngọt. Hoàng đế này rất oai hùng trong đối ngoại thì cũng khôn khéo trong đối nội. Để có thể huy động hàng trăm ngàn lính thì cần phải đoàn kết dân tộc, đề cao nguồn gốc. Đã có tình trạng dân Việt đồng hóa dân Chàm bằng hôn nhân, phải có “tổ” để mà đề cao dòng giống Việt nên vua Lê Thánh Tôn cần có thuyết đề cao nguồn cội

Trong những năm cai trị đầy oai lực đó “Lĩnh Nam chích quái” và thuyết Hùng Vương đã xuất hiện năm 1492. Như vậy là tuồng cải lương “Tiếng trống Mê Linh” có cảnh dân chúng cùng bà Trưng đánh trống giỗ tổ Hùng Vương thời Hán thuộc là chuyện không đúng sự thực.  

Trong suốt thời các chúa Nguyễn thì không nghe sử nhắc tới Hùng Vương ,các vua Nguyễn cũng không nhắc trong sử,không có lễ lạc gì lớn. Nhưng Hùng Vương như vua Tự Đức “Châm chước” đã cho cho thờ trong một cái miếu.

Trên một tấm bia ở đền Hùng Vương tỉnh Phú Thọ ghi việc giỗ Hùng Vương bắt đầu từ thời vua Khải Định năm 1917.  Còn vì sao chọn ngày mùng 10 tháng 3 làm ngày Giỗ Tổ thì chưa có học giả nào giải thích đặng.Một con số hoàn toàn không có lý do xác thực

-Nam Kỳ thì sao?

Tại Nam Kỳ thì Hùng Vương không có trong tâm trí và tâm linh người xứ Nam Lục Tỉnh trong suốt thời khẩn hoang.

Người Nam thênh thang một xứ, tâm linh một vùng, không cần phải diễn cái thuyết tuyên giáo đó. Quyền lợi tối thượng, đất nào nuôi ta thì ta thờ thần, thờ tiền hiền xứ đó. Dân Nam Kỳ chúng ta có tổ tiên chứ,ai không có tổ tiên ông bà.

Tổ tiên của chúng ta trước nhứt ở đâu? Là những người đang ngự trên bàn thờ giữa nhà chúng ta đó . Người sanh ra ông bà nội ngoại , cha mẹ ta chứ ai . Đốt cây nhang xá một xá là bạn đã nhớ ân tiên tổ rồi.

“Ơn Tổ Tiên muốn cho đền đáp

Chớ làm điều nhơ nháp vô nghì

Một lòng đạo nghĩa thực thi

Tròn ơn vẹn đức nhu mì dồi trau”

Ông bà ta trực tiếp đổ máu tươi, bỏ mạng để khai phá, xây dựng bảo vệ mảnh đất Phương Nam này , rồi để lại đất đai nhà cửa ruộng vườn cho con.

Những Nguyễn Hữu Cảnh,Mạc Cửu,Trần Thượng Xuyên, Võ Tánh,Lê Văn Duyệt,Trương Minh Giảng,Phan Thanh Giản tới Nguyễn Hữu Huân ,Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Khoa Nam ….là tổ tiên trực hệ của người Miền Nam.

Suốt thời Pháp lãnh thổ Nam Kỳ thuộc địa không có khái niệm Hùng Vương và Hùng Vương cũng không ảnh hưởng tới Nam Kỳ. Anh Việt Minh Nam Kỳ Huỳnh Văn Nghệ từ “Chiến khu Đ, 1946” làm bài thơ hướng Bắc:

“Ai về xứ Bắc ta đi với

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

Từ độ mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”

Nhưng ông Nghệ không nhắc Hùng Vương, ông nhắc Nguyễn Hoàng

“Ai nhớ người chăng?

Ôi Nguyễn Hoàng!

Mà ta con cháu mấy đời hoang”

Sau 1954 thì Miền Nam bắt đầu có 3 ảnh hưởng từ phía Bắc đem vào. Miền Bắc rất tôn sùng ba nhân vật gồm:

-Hùng Vương

-Trần Hưng Đạo mà họ gọi là Thánh Trần

-Nguyễn Huệ

Chính những người Bắc di cư 1954 ôm theo 3 cái này vô Nam sau 1954.  

Trường Hùng Vương ở quận 5 đối diện xeo xéo bên kia đường là Đại học Y Dược xây năm 1930 với tên ban đầu là Trường Sơ cấp tiểu học Chợ Lớn, rồi Tiểu học Đỗ Hữu Phương ,sau 1954 thành trường Hùng Vương.

Bịnh viện phụ sản Hùng Vương ban sơ là nhà bảo sanh Chợ Lớn thuộc khoa sản của bịnh viện Lalung Bonaire (nhà thương Nam Việt),năm 1958 đổi tên thành bảo sanh viện Hùng Vương .

Cái đền có thờ Hùng Vương trong Sở Thú có từ sau 1954 thôi, trước đó là Đền kỷ niệm (Temple de Souvenir).Nhưng đền này lại thờ Khổng Tử.

Tại Tây Ninh,bên Cao Đài có cái đền “Báo Quốc từ”có thờ Hùng Vương. Có cầu cơ,giáng thi Hùng Vương luôn. Nhưng coi kỹ, cái miếu thờ này xây xong trong năm 1955, tức là ông Hộ Pháp Phạm Công Tắc cũng tùy thời thế mà thờ thôi .Cũng đừng lấy chứng cứ kiểu “Cao Đài có thờ là có bằng chứng Nam Kỳ có”.Không phải cái gì của tôn giáo cũng thể hiện cái “đời thực” của Miền Nam.

Đền thờ Hùng Vương lâu đời nhứt ở Miền Tây tọa lạc ở Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang chỉ được xây dựng từ năm 1957

Những đền thờ Hùng Vương mọc lên trong Nam là từ sau 1954 ,nhiều nhứt là những năm 1970 khi chiến tranh ác liệt.Nhiều người có tâm lý “hướng nguồn” nhằm hy vọng chiến tranh bớt ác liệt ,tâm lý mong “anh em” Việt ở HN cùng tổ đàng hoàng với nhau hơn

Ngày nay chúng ta không phủ nhận Hùng Vương,nhưng nói thực lòng, nghĩ sao nói vậy,”tổ Hùng Vương” chỉ là tổ tượng trưng, tổ có hơi hám màu mè cho nó vui mà thôi. Còn lạy lục tế tự một nhân vật mơ hồ và có thể là không có thực thì có gì đó quá giả

Một ngày nghỉ lễ cho khỏe.Thực tế phần đông dân Nam nghĩ vậy. Với người Miền Nam thì Hùng Vương chỉ là tượng trưng, không phải là nghĩa vụ nhứt định, trói buộc.

Tượng trưng là biểu thị một ý nghĩa đặc thù nào đó ở mức không trói buộc,có cũng được,không có cũng được và không có nghĩa vụ. Còn nghĩa vụ là việc mình phải làm tròn theo kiểu bị ép buộc,không làm không được.

Nghĩa vụ người Nam Kỳ là tế tự, trọng thị tổ tiên trực hệ của mình,những người đã lao động, tranh đấu máu xương,mồ hôi nước mắt cho đất Lục Tỉnh này

Đi trên đường Hùng Vương không cảm xúc hơn đi trên đường Phan Thanh Giản,Võ Tánh…dù mấy cái đường này bị xóa tên gần hết .

Nói như vầy là thẳng thuốm mà nói.

Cái chuyện vọng tổ hay chối tổ là chuyện “tùy lòng” của mỗi cá nhân, không ai ép được.

Người Bắc lũy tre làng, trọng dòng họ, suốt ngày “tổ” này tổ nọ,nghĩa vụ nặng nề ,anh cả ban ơn em út,trong khi người Nam Kỳ tự do thì không có khái niệm tổ như tư duy đó.  

Nam Kỳ không có lập gia phả, không có nhà thờ tổ tập trung, không có trưởng tộc,thờ ông bà tới ba đời là xong và “dòng họ”,anh hai chưa bao giờ có quyền đòi nghĩa vụ với con cháu

Cái gì cũng có một sự chừng mực, đừng bao giờ phải lâm vào tình cảnh “Mả cha không khóc mà khóc cái gò mối”.

Nguyễn Gia Việt

Nguồn: fb Nguyễn Gia Việt: https://www.facebook.com/Conduongthienly.vi/posts/1609965676041526

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.