Mảng tác phẩm Công Giáo của văn chương Nam Kỳ đầu thế kỷ 20

Văn học Công Giáo là những tác phẩm nói những chuyện liên quan đến đời sống Công Giáo như đạo nạn, các thánh tông đồ, những suy nghĩ của người đương sống đạo, hoặc là những sinh hoạt mà nhân vật là những người tuẫn đạo, thuần đạo… – Tác giả không nhứt thiết là người đạo, nhưng thường 100% là ở trong trường hợp nầy – trong tác phẩm của họ tính chất văn học hiện diện đã đành nhưng tính chất tôn giáo cũng đồng thời có mặt…

Nguyễn Văn Sâm

BienPhuong1

Trong văn học Việt Nam, những tác giả Công Giáo như những ông Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Hàn Mạc Tử… không thuộc nhóm nầy vì tác phẩm của họ nói về chuyện chung của người Việt Nam và tính chất tôn giáo rất ít không có hay là khó thấy. Do đó người viết văn học sử đã xếp những vị nầy vô nhóm những nhà văn Việt Nam nói chung.

Trái lại tác giả Hồ Ngọc Cẩn, tác giả tuồng Sébastien, tác giả Jacques Lê Văn Đức, tác giả Trịnh Khánh Minh, tác giả Trịnh Khánh Tân, tác giả Nguyễn Quang Minh… là những người thuộc nhóm tạo thành văn học Công Giáo Việt Nam. Nhóm nầy hầu hết xuất hiện ở Miền Nam thời đầu thế kỷ 20 nên chúng tôi gọi họ là những nhà văn Công Giáo Miền Nam giai đoạn 1860-1930.

Tác phẩm của họ nói về chuyện đạo nhưng được viết ra với nhiều tính cách văn chương. Thường là bằng thơ lục bát hoặc tuồng, văn xuôi là số ít, nội dung nhắm tới việc đưa ra những sự kiện về bắt đạo, tử đạo hoặc dạy cho người đọc sống phù hợp với lẽ đạo nói riêng và con người thuần lương nói chung. Có thể là khi sáng tác, những vị nầy chủ yếu nhắm mục tiêu viết cho đồng đạo nhiều hơn cho độc giả bình thường nhưng chắc chắn rằng ai đã đọc thì thế nào cũng học được điều gì đó tốt lành.

Người góp phần vào văn học Công Giáo của Nam Kỳ Lục Tỉnh thời đầu thế kỷ 20 có nhiều, một số lớn không đề tên. Bước đầu chúng tôi tùy cơ duyên, kiếm được tác phẩm nào nhiều tính chất văn học và lịch sử thì sẽ giới thiệu. Nguồn tác phẩm loại nầy là từ tuần báo Nam Kỳ Địa Phận và từ nhà in Tân Định, nhà in Qui Nhơn[1].

  1. Trịnh Khánh Minh, Á Thánh Gẫm Tử Đạo Vãn, SG, 1909 (đã giới thiệu). Biện Phượng và Biện Du Vãn, SG, 1914 (giới thiệu August, 2021).
  1. Trịnh Khánh Tấn, Cang Thường Lược Luận, SG, 1914 (đã giới thiệu)
  1. Jacques Lê Văn Đức[2],
    • Loại sáng tác: Loại nầy nhiều tính văn chương.
      • Tìm của Báu, Qui Nhơn, 1930, Á Thánh Janne d’Arc tuồng, Qui Nhơn 1924, Tình thâm Nghĩa Trọng, Qui Nhơn ( ), Trước Cửa Thiên Đàng, Qui Nhơn, ( )
  1. Các tuồng Giễu: Loại nầy được tác giả viết để phục vụ trình diễn giúp vui trong các họ đạo.
    • Công tử bột đi cưới vợ, Đi bắt ăn cướp, Điền lính, Hiền Tạ, Ngai Vàng.
  1. Paul Nguyễn Quang Minh, Phong Hóa Tân Biên và Huấn Nữ Ca, Sàigòn, 1931
  1. Vô Danh, Chánh tà vãn, Sg, 1934
  1. Vô Danh, Dị Đoan Ca – Cúng Quải Ca, SG, 1901

Giới thiệu cuốn Biện Phượng và Biện Du:

BIỆN PHƯỢNG VÀ BIỆN DU
(HAI ANH EM TỬ VÌ ĐẠO)

Câu chuyện xảy ra ở Huyện Bình Dương, làng Nhơn Giang, tỉnh Gia Định khoảng nửa sau thế kỷ 19. Lúc nầy chuyện bắt đạo đương mạnh trong toàn quốc, Cha đạo và tín đồ chịu nhiều hoạn nạn.

                        Nhằm cơn bắt đạo hầm hầm[3],
                  Cha thầy khi ấy, đứng nằm không yên.
                        Lánh thân ẩn dật liền liền,
80              Cũng như muông sói, tìm chiên bắt rày.
                        Biết bao nhiêu chuyện đắng cay,
                  Đường đi nước bước, thiệt gay quá chừng.
                        Đêm ngày tìm kiếm chẳng đừng,
                  Các nơi đồn thủ[4], nghiêm tuần xét tra.

Có hai bổn đạo công giáo họ Trịnh là Khánh Phượng và Khánh Du, làm chức biện trạm ở Cần Giờ. Biện trạm là một chức vụ nhỏ, giữ việc giấy tờ cho trạm xét người hay ghe tàu đi ngang qua trạm xét do chánh quyền sở tại đặt ra làm chốt ngăn để tìm những gian lậu hay kẻ ‘tả đạo’. Chức nầy không lớn nhưng có thể nhờ đó cấp giấy – gọi là phái đi đường. Họ đã cấp phái cho ghe của Lái Gẩm trên đó có chứa nhiều đồ của nhà Chúa và Cha đạo người ngoại quốc. Việc ẩn lậu do cấp phái bị phát giác do một sự tình cờ

95              ….. Chở chuyên đồ lễ vật dùng,
                  Rủi thời lại gặp ghe tuần thảm thay.
                        Qua ghe chưa rõ gian ngay,
                  Nào hay xét đặng quả rày vật tang.
                        Hỏi tra tờ, phái, rộn ràng,
100            Trong ghe khi ấy vội vàng trình ra.
                        Lính tuần vội vã xem qua,
                  Coi đi, coi lại tưởng là giấy gian.
                        Thiệt là không phải phái làng,
                  Ai ngờ coi lại, rõ ràng trạm cho.
105                  Quân tuần chưa rõ căn do,
                  Nghĩ rằng không lẽ, trạm cho như vầy.
                        Bắt đem trở lại trạm nầy,
                  Đặng cho đội trạm hỏi rày cho minh.

Hai người biện trạm sợ rằng trong tương lai sẽ xảy ra những nguy hiểm lớn hơn nên đã từ chức về nhà sống đời dân dã chăm lo việc đạo ở vùng Chợ Quán. Người anh dạy học, người em làm thầy thuốc để sống.

Cuộc sống tưởng bình yên nhưng thiệt ra đương bị bão ngầm, họ bị một gia đình láng giềng người lương – lúc đó kêu là người nội – xấu tánh lấn chiếm đất đai, hai bên do đó xích mích nhưng không bùng nổ.

Năm Kỷ Mùi 1858, khi người Pháp tiến đánh Cần Giờ, đồn thủ của triều đình Việt Nam tan tát, họ tiến tới vùng Tam kỳ – đồ chừng là vùng Tham Lương bây giờ – tới vùng ở của hai người nầy, hai người nầy cũng như bao nhiêu dân lành khác bỏ nhà cửa chạy trốn, nhưng khi người Pháp rút đi về đóng đồn ở vùng mới chiếm được và đã cảm thấy an toàn thì quan quân Việt trở lại vùng bỏ ngỏ đó.

Sau chiến tranh con người lâm vào tình trạng khốn khó do nhà cửa bị hư hại gia đình tan nát, kẻ mất người còn nên oán hận vu vơ. Kẻ xích mích kia tố cáo với chánh quyền sở tại mới tái lập rằng hai bổn đạo Biện Phương và Biện Du đầu Tây và có dẫn Tây tấn công đồn Việt.

                  Biện Du, Biện Phượng rõ ràng đầu Tây.
                        Bội quân phản quấc như vầy,
                  Chúng tôi cáo bạch, ra đây tỏ tường.
                        Hai người, hai ngựa dẫn đường,
                  Mai Sơn đồn ấy, Tây dương phá rày[5].

Cả hai bị bắt.

Sao bao tháng bị giam cầm tra tấn họ được tuyên bố trắng tội do giới chức làng xã ở đó chứng nhận rằng họ không có tội đầu Tây dẫn giặc. Tuy nhiên chánh quyền chuyển từ tội danh nầy sang tội danh khác nặng nề cũng không kém là tội theo tả đạo lúc đó đương là chánh sách quan trọng của triều đình.

Hai người Biện Phương và Biện Du được dụ khuyên bỏ đạo, bước qua thánh giá thì sẽ được thả ra nhưng hai người do có niềm tin lớn lao về tôn giáo của mình đã từ chối. Tội đầu Tây đã bị giam cầm tra khảo nhiều, nay bị chuyển qua tội tả đạo thì càng bị tra khảo nhiều hơn. Sau vài tháng thì địa phương chuyển sớ về triều đình tâu trình việc nầy.

                        Tỏ bày trong án như vầy,
                  Đầu Tây hướng đạo đủ đầy vấn minh.
                        Cũng đà lũ thứ gia hình[6],
                  Ghe phen tấn khảo, hết tình xét tra.
415                  Khẩu chiêu, chứng cứ khai ra,
                  Biện Du Biện Phượng thiệt là người ngay.
                        Mắc chưng tả đạo tội rày,
                  Bất tuân xuất giáo, tấu rày thánh minh.

Thời chiến tranh, người theo đạo Da Tô không được cái nhìn thiện cảm từ triều đình vì các cha đạo thường liên lạc với Tây để nói chuyện xin khi hai bên đánh nhau, chừa ra ít gây tổn thương đối với bổn đạo, cho nên triều đình ra lịnh xử tử hai tội nhơn nói trên mà không cần cứu xét cẩn thận.

Cuối cùng thì vì Tây đánh vào vùng đó nên chánh quyền sở tại phải lùa những tội nhơn theo và để dễ dàng cho việc bôn tẩu, họ đã cho hành quyết nhiều người, trong đó có Biện Phượng và Biện Du.

Một người lính cựu đã tìm đến báo tin gia đình hai người nầy hay. Bà vợ của Biện Phương mời cha đạo đi với mình tới Ổ-Gà là nơi cuộc hành quyết được thực hiện và đã vùi dập thi thể tội nhân ở đây. Họ tổ chức lấy thây và dùng xe trâu đưa Sàigòn, vùng nhà thờ Chợ Quán lúc nầy thuộc chánh quyền mới mà gia đình của hai người nầy trú ngụ.

Một người con của Biện Phượng là Trịnh Khánh Minh về sau đã viết lại toàn bộ sự kiện chết chóc của của Biện Phương và Biện Du cũng như những gì mà Tòa Thánh đã tiến hành sau đó về sự kiện nầy trong quyển thơ của mình: Biện Phượng và Biện Du là hai anh em tử vì đạo vãn, nhà in Tân Định xuất bản, Sàigòn, 1914. Tác phẩm gồm 725 câu lục bát.

Đây là một tác phẩm Công Giáo đáng được đem vào sách văn học Việt Nam vì ngoài tánh chất văn chương còn cung cấp được nhiều điều như sinh hoạt của người Công giáo, đạo sử, sử Việt giai đoạn đầu tiên lúc người Pháp tiến đánh Cần Giờ và con đường tiến quân của họ vô Sàigòn.

Bài học đưa ra là thời nào cũng có kẻ xấu, tố cáo bậy do lòng ghen ghét. Và thời nào cũng có tham quan bất tài, đánh giặc thì dở, cai trị thì không biết đầu đâu đuôi đâu của một vụ án mà hành dân thì ‘chuyên sâu’.

Xin giới thiệu toàn bản văn đã được đánh máy lại, dò cẩn thận và những chú giải cần thiết cho người đọc ngày nay.

Bài viết hôm nay chỉ có mục đích giới thiệu một tác phẩm Công Giáo, phần biên khảo về sử liệu, đạo sử… xin nhường cho những người khác.

Nguyễn Văn Sâm, NVS Victorville, CA, May-August 2021

http://gpquinhon.org/q/ton-giao/mang-tac-pham-cong-giao-cua-van-chuong-nam-ky-dau-the-ky-20-4652.html

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.