Cuộc tấn công bất ngờ vào tòa Khâm Sứ Pháp ở Huế

Trong khi Triều đình Huế ký kết các Hiệp định công nhận sự bảo hộ của Pháp, thì phái chủ chiến đứng đầu là Tôn Thất Thuyết lại chuẩn bị cho một cuộc chiến sống còn với Pháp. Điều này đã dẫn đến một cuộc tấn công bất ngờ vào tòa Khâm Sứ Pháp ở Huế.

Trần Hưng

Triều đình ký các Hiệp ước nhượng bộ

ton-that-thuyet-1a

Tôn Thất Thuyết

Trước sức mạnh của quân Pháp, Triều đình Huế buộc phải ký Hiệp ước Harmand năm 1883, Hòa ước Patenôtre năm 1884. Với việc ký kết này, Triều đình Huế đã công nhận quyền bảo hộ của Pháp đối với Đại Nam.

Nội bộ Triều đình cũng không đồng lòng, chia làm phái chủ chiến, phái chủ hòa và những người lưỡng lự. Tôn Thất Thuyết là người đứng đầu phái chủ chiến, không đồng ý vua Hiệp Hòa ký Hiệp ước Harmand năm 1883, vì thế mà bị Vua giáng chức.

Không muốn hàng Pháp, Tôn Thất Thuyết cùng các đại thần khác phế vua Hiệp Hòa, đưa con nuôi của vua Tự Đức là Kiến Phúc lên ngôi.

Tôn Thất Thuyết giữ chức Thượng thư bộ Binh tức nắm giữ quân đội trong tay. Ông tổ chức cho quân xây dựng các phòng tuyến bố phòng tại các tỉnh cũng như Kinh thành, sẵn sàng chống Pháp.

Năm 1884, vua Kiến Phúc ký Hòa ước Patenôtre. Tôn Thất Tuyết dù không đồng ý nhưng cũng đành cố nhịn, tận dụng Hòa ước này nhằm xây dựng lực lượng, “mở đường thượng đạo”, xây dựng một hệ thống các đồn sơn phòng dọc theo sườn Đông Trường Sơn, xây dựng căn cứ ở Tân Sở (huyện Cam Lộ, Quảng Trị) phòng khi có biến sẽ rút quân đến đây.

Tháng 8/1884, vua Phúc Kiến lâm bệnh nặng rồi qua đời, em của Vua mới 12 tuổi lên ngôi, hiệu là Hàm Nghi. Đến lúc này Tôn Thất Thuyết cùng phái chủ chiến mới thực sự kiểm soát được Triều đình, quyết tâm chống Pháp.

Pháp muốn loại bỏ phái chủ chiến

Các hoạt động của Tôn Thất Thuyết dù cố giữ bí mật với quân Pháp, nhưng khó dấu hết được, người Pháp cảm thấy cần phải loại bỏ phái chủ chiến trong Triều mà đứng đầu là Tôn Thất Thuyết.

Cuối tháng 5/1885, Pháp cử tướng De Courcy làm Toàn quyền chính trị và quân sự tại Bắc và Trung kỳ. De Courcy đến Huế với hơn 1.000 binh lính, mục tiêu loại bỏ phái chủ chiến và Tôn Thất Thuyết.

Courcy yêu cầu Triều đình phải lệnh cho các sĩ phu và dân chúng quy thuận hoàn toàn chính quyền bảo hộ Pháp. Đáp lại, Tôn Thất Thuyết cho các khẩu thần công ở Đại nội chĩa sang phía đồn Mang Cá của Pháp. Lập tức quân Pháp đến tuần tiễu xung quanh Đại Nội.

Tình hình rất căng thẳng, Khâm sứ Lemaire thuyết phục Tôn Thất Thuyết di dời các khẩu thần công này. Tôn Thất Thuyết nhượng bộ cất các khẩu thần công này, rồi bí mật chuyển một phần đến căn cứ ở Tân Sở mà người Pháp không biết.

Để loại bỏ Tôn Thất Thuyết, Courcy cho mời các quan Phụ chính đến sứ quán Pháp vào ngày 3/7 để thảo luận việc vào Triều yết kiến vua Hàm Nghi rồi trình quốc thư, rồi sẽ bắt luôn Tôn Thất Thuyết. Tuy nhiên âm mưu này bị lộ nên Tôn Thất Thuyết cáo bệnh không đi.

Áp lực của Pháp ngày càng tăngn

Chỉ có Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật là đến sứ quán Pháp. Phía Pháp ra rất nhiều điều kiện như phái đoàn Pháp phải đi vào bằng cửa chính Ngọ môn, khi vào trong Hoàng thành thì vua Hàm Nghi phải đích thân ra ngoài đón.

Chiều 4/7, Triều đình Huế cử phái đoàn đến sứ quán Pháp mang theo lễ vật của Thái hậu Từ Dụ, nhưng Courcy cự tuyệt không tiếp cũng như không nhận lễ vật và tuyên bố: “Nếu các người muốn yên ổn, thì trong 3 ngày phải nộp 200.000 thỏi vàng, 200.000 thỏi bạc và 200.000 francs”.

Đến lúc vào Kinh thành gặp vua Hàm Nghi để trình quốc thư, Courcy cùng tùy tùng nghênh ngang đi vào bằng cửa Ngọ môn vốn chỉ dành cho Vua.

Nhận thấy tình hình ngày càng căng thẳng, Tôn Thất Thuyết gấp rút chuẩn vị vũ khí lương thực chuẩn bị cho cuộc nổ súng. Ông quyết định bất ngờ tấn công trước nhằm giành thế chủ động dù chưa chuẩn bị thật kỹ càng.

Kế hoạch tấn công

Ngay ngày 4/7, Tôn Thất Thuyết cho đặt súng thần công hướng vào tòa Khâm sứ và đồn Mang Cá của Pháp. Khi trời vừa sập tối, Trần Xuân Soạn cho đóng hết các cửa ở Kinh thành, đặt các khẩu thần công lên sẵn sàng phòng thủ.

Đến tối, Tôn Thất Thuyết chia quân tấn công, một cánh do em trai ông là Tôn Thất Lệ chỉ huy nửa đêm vượt sông Hương đánh úp tòa Khâm sứ. Đoán biết quân Pháp bị tấn công sẽ cho quân tiếp viện, nên một cánh khác do Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn chỉ huy ở bên này sông sẽ tấn công vào trấn Bình Đài, không cho quân Pháp ở đây đi tiếp viện.

Một cánh khác mai phục ở cầu Thăng Long sẵn sàng chặn và đánh quân Pháp ở đồn Mang Cá. Một đội quân khác ở phía sau Đại nội để phòng thủ và sẵn sàng trợ chiến.

Tối ngày 4/7, quân Pháp đang say sưa mở tiệc khao thưởng quân, trong khi đó quân Đại Nam đang di chuyển vào vị trí. Đến 1 giờ sáng, hiệu lệnh tấn công được phát ra, quân Đại Nam bất ngờ tấn công vào tòa Khâm Sứ Pháp và trấn Bình Đài.

Tại tòa Khâm Sứ, quân Pháp bị bất ngờ tấn công giữa đêm khuya nên tập trung cố thủ để đợi đến sáng. Trong cuộc tấn công của phái chủ chiến, lực lượng quân Đại Nam có hơn 12.000 quân và 1.100 khẩu pháo thần công; phía quân Pháp có 1.400 quân cùng 17 khẩu pháo.

Quân Pháp cố thủ

Dù nắm lợi thế tấn công bất ngờ, nhưng pháo thần công của quân Triều đình có sức công phá yếu, chỉ bắn sập mái nhà và lầu tòa Khâm Sứ Pháp. Súng quân Triều đình có tầm bắn ngắn hơn súng quân Pháp nên dù quân số đông hơn nhưng khó tấn công được vào trong.

Tại đồn Mang Cá, quân Triều đình hò reo phóng hỏa khiến trại lính bị thiêu cháy. Quân Pháp đang ngủ say vội bật dậy, tập trung đến nơi cách xa tầm đạn quân Triều đình để cố thủ.

Sau này vào năm 1916, A.Delvaux (ngoại vụ Paris) đã tường thuật lại trong bài viết của mình đăng trên tập san “Đô thành hiếu cổ” như sau:

“Một trong những phát đạn đại bác bắn từ ổ pháo phía Đông đã làm thủng mái và nền nhà của nhà Phái bộ (tức tòa Khâm Sứ Pháp).

Các trại lính của đại đội 27 và 30 của Tiểu đoàn 4 Thủy quân lục chiến bị cháy cùng một lúc với chỗ để đồ đạc của Phái bộ và các nhà hậu cần. Binh lính chạy đến bức tường bằng cửa phía trước của tòa nhà đối diện với trại binh. Ông De Courcy chỉ huy 160 người, bố trí cứ một cửa sổ hai người, biến ngôi nhà thành một pháo đài. Hàng loạt đạn súng trường bắn ra nhưng quan trọng nhất là sáu cỗ đại bác ở góc đông của Kinh thành đã cầm chân 1500 quân tấn công không có nhiều súng ống và ở cự ly xa. Cũng may là căn nhà để điện thoại ở cách xa nhà phái bộ 300m không bị đạn, nhờ vậy mà ông tướng (tức De Courcy) có thể liên lạc với đồn Thuận An. Ông tướng bị kẹt trong gian nhà chính giữa rất lo cho số phận của đồn Mang Cá. Đến sáng thì khẩu đội pháo gồm hai khẩu đại bác hướng nòng về phía Tây nhà phái bộ đã bị một trung đội thủy quân lục chiến tiến đánh tập hậu và chiếm được…”

Quân Triều đình dù đông nhưng vũ khí lạc hậu, tầm bắn gần nên không sao tiến được vào trong, vì thế mà quân Pháp phòng thủ thành công. Trời vừa mờ sáng, đại bác quân Pháp bắn trả ầm ầm khiến quân Triều đình thiệt hại. Quân Pháp tổ chức phản công vào Kinh thành.

Quân Pháp đánh vào Kinh thành

Pháo hạm trên tàu của Pháp bắn dồn dập dọn đường cho bộ binh tấn cống. Quân Pháp chia làm 3 cánh tấn công vào Kinh thành.

Sau những giờ chủ động tấn công đầy phấn khích, quân Triều đình bất ngờ bị phản công nhưng cũng cố gắng cầm cự. Bên ngoài Kinh thành, quân Triều đình chống cự khiến một số sĩ quan Pháp bị tử trận, nhưng quân Pháp với hỏa lực mạnh vẫn vượt qua tiến đến tường thành.

Trên tường thành, đạn pháo quân Triều đình bắn xuống xối xả khiến quân Pháp bị thiệt hại, một toán quân châu Phi bị tiêu diệt. Nhưng với hỏa lực mạnh hơn, quân Pháp vẫn qua được các cửa thành và tiến vào trong.

Phía trong Kinh thành, dù đã chuẩn bị các trận địa từ trước, nhưng quân Triều đình vẫn không chống cự được hỏa lực mạnh mẽ của quân Pháp. Quân Triều đình chạy ra phía cửa Đông Ba, nhưng quân Pháp từ phía cửa Trài tiến đến hình thành thế bao vây. Một cuộc thảm sát đã diễn ra khiến 1.500 bình lính và thường dân thiệt mạng. Quân Pháp tiến vào Đại Nội, ra sức đốt phá, cướp bóc. Tôn Thất Thuyết cùng các quân còn lại phò tá vua Hàm Nghi chạy thoát ra ngoài.

Quân Pháp cướp phá

Quân Pháp chiếm được một số lượng của cái lớn trong Kinh thành gồm 2.6 tấn vàng và 30 tấn bạc. Sau này lính Pháp phải đóng hòm mất 5 ngày mới hết 700.000 lạng bạc để chở về Pháp.

Linh mục Père Siefert, nhân chứng sự kiện này đã ghi lại: “Kho tàng trong hoàng cung đã mất đi gần 24 triệu quan vàng và bạc… Cuộc cướp cạn ấy kéo dài trong 2 tháng còn gây tai tiếng hơn cuộc cướp phá Cung điện Mùa Hè của Thanh Đế ở Bắc Kinh”.

Cũng theo Père Siefert, khi đối chiếu với bảng kiểm kê tài sản của hoàng gia lập trước ngày 5/7/1885 với những gì đã mất, thì quân Pháp đã cướp: “228 viên kim cương, 266 món nữ trang có nạm kim cương, hạt trai, hạt ngọc, 271 đồ bằng vàng trong cung của bà Từ Dụ”.

Quốc sử quán triều Nguyễn ghi rằng riêng tại Phủ Nội vụ ở tầng dưới cất giữ 91.424 thỏi bạc đỉnh 10 lạng, 78.960 thỏi bạc đỉnh 1 lạng; tầng trên cất giữ khoảng 500 lạng vàng, khoảng 700.000 lạng bạc; kho gần cửa Thọ Chỉ cất giữ 898 lạng vàng, 3.400 lạng bạc. Toàn bộ số vàng bạc này đã bị Pháp chiếm.

Quân Pháp trong quá trình truy đuổi vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết đã thu được 34 hòm bạc chứa 36.557 tiền bạc và 6 hòm bạc chứa 196 thỏi bạc, mỗi thỏi 10 lạng và 18.696 tiền bạc.

Ngày 24/7/1885, tướng De Courcy đã gửi về Pháp bức điện như sau: “Trị giá phỏng chừng các quý vật bằng vàng hay bằng bạc giấu kỹ trong các hầm kín là 9 triệu quan. Đã khám phá thêm nhiều ấn tín và kim sách đáng giá bạc triệu. Xúc tiến rất khó khăn việc tập trung những kho tàng mỹ thuật. Cần cử sang đây một chiếc tàu cùng nhiều nhân viên thành thạo để mang về mọi thứ cùng với kho tàng”.

Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi đến căn cứ Tân Sở ở Quảng Trị đã chuẩn bị sẵn từ trước đó. Vua ra hịch Cần Vương kêu gọi người dân đồng lòng chống Pháp. Từ đó phong trào Cần Vương chống Pháp nổ ra khắp nơi trong nước.

Tưởng niệm

Người Huế lập bàn thờ tưởng niệm những người đã mất trong cuộc thảm sát kinh hoàng. Hai điểm chính trong khu vực Thành Nội là Đàn Âm Hồn ở đường Ông Ích Khiêm (phường Thuận Hòa) và miếu Âm Hồn tại ngã tư Mai Thúc Loan- Lê Thánh Tôn). Cứ vào ngày xảy ra trận thảm sát 23 tháng 5 âm lịch hàng năm, người dân Huế tụ tập đến nơi đây thắp nhang, đốt đèn truy điệu hàng nghìn người đã mất. Nhiều nhà dân cũng tổ chức tưởng niệm người đã mất trong biến cố lịch sử này.

Sự thất bại của Triều đình dẫn đến số của cải khổng lồ trong Kinh thành bị mất sạch. Nếu như trước đó vua Tự Đức nghe theo lời Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Lê Đỉnh mà thực hiện một cuộc cải cách thay đổi, dùng số của cải này trang bị vũ khí hiện đại cho quân đội, tăng cường binh lực, thì Tôn Thất Thuyết cùng đội quân của ông có lẽ đã không thất bại nhanh đến thế, và người Pháp không dễ gì giành chiến thắng trong cuộc chiến này.

Trần Hưng

Nguồn: Trithucvn

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.