Ông đốc què trường tỉnh Sốc-trăng, François Gros 

Ông mang bịnh xụi bại (paralysie) hai chưn không chở nổi thân mập, ông tên François Gros, đi từ bước một, hai tay chống gậy; không biết ông làm đốc-học từ đời nào.

Vương Hồng Sển

Vuonghongsen

Vương Hồng Sển

Khi tôi vô học năm 1909 cho đến năm 1914, có giặc đệ-nhứt thế chiến bên Pháp, tôi ở lớp Ba ê-lê-măng-te, tôi nhớ vẫn thấy ông với chức coi trường (directeur), ông đi đứng lụm-cụm mà vẫn siêng đi, theo sau có một trò bưng ghế Thonet theo bén gót, ông dừng bước thì phải lẹ-làng đút ghế sát bàn tọa cho ông nơ thùng nước lèo ngồi xuống, đứa nào chậm-lụt, lót ghế không kịp, báo hại ông xính vính gần té, khi ông ngồi kịp, thì a-lê-húp, lẹ như chớp, ông quơ gậy móc cổ tên trò vô phước, cho gậy lên đầu. Nhà nước có xây một nhà bánh ếch có sân có hàng ba và vườn hoa mát mẻ, nhưng ông để gia đình ở, có lẽ ông chê ẩm-thấp không hợp với ông, nên ông dọn và chiếm một góc lầu hướng đông của trường làm phòng ăn ở, sáng sáng ông gọi bà đốc, tên Odonie nghe lồng-lộng, hoặc tên con, trai là René Gros, sau làm giáo-sư dạy trường trung-học Mỹ-tho và gái là Sarah, tiếng ông rinh-rang cả trường đều nghe rổn-rảng. Ông có dùng một người tên Năm, vừa kéo xe cho ông ngồi, vừa nấu bếp, vừa dọn bàn ăn, hầm-bà-lằng mà anh Năm vẫn tiêm-tất mỗi chiều đầu chít khăn đầu rìu, áo trắng cổ giữa, kéo xe cho ông dạo mát, và để thưởng công một đời cúc cung tận tụy, chị Năm được độc quyền bán bánh cho học trò vào giờ ra chơi, và ngon nhất là cái bánh xầy giầm nước mắm nguyên tô, tôi đã nói rồi trong một bài trước. 

Có lẽ ông vì biết thân bại-liệt, nên mặc cảm, ông ít nói nhỏ và quen la lớn, và tánh rất nóng, khi dạy Pháp-văn mà học trò chậm hiểu và viết còn lầm lỗi, thì ông thường gậy liền tay cho đến chữ ấy tiếng ấy nhập vào trí óc mới ngưng tay: đầu trò u cho một cục. Có phải nhờ phương pháp dạy dỗ như vậy mà học trò ông thành danh rất nhiều: Nguyễn-văn-Sâm, Châu-Quang-Phước, Ngô-Thiên-Xên (thầy dạy toán của tôi)… Và nói ông là Tây xấu, Tây thực dân cũng không đúng, vì có năm nọ, tới gần ngày thi sơ-học (lúc ấy học-trò các tỉnh Bạc-liêu, Sốc-trăng phải lên thi ở Cần-thơ), ông đang dạy thúc các anh lớp nhất, có một anh tên Huỳnh-Kim-Biên, bỗng vắng học độ một tuần, ông hỏi thăm biết được vì nghèo nên định bỏ học, tội nghiệp què-quặt như vậy mà ông bắt anh Năm kéo xe cho ông tìm Biên đến làng xa xôi, và dịu ngọt khuyên Biên đừng bỏ học, sau nầy Biên là giáo Biên, cũng nhờ ông đốc què gắn-bó. 

Các thầy dạy, nay tôi còn nhớ đủ: 

– ông Trần-văn-Vận, dạy lớp năm, gọi lớp chót, tôi học một năm, bãi trường được lãnh phần thưởng một cái nón rơm kiểu nón Maurice Chevalier, không nhớ giỏi môn nào, cuối năm được lên lớp tư, chỉ thuộc độc nhứt bài “1 nhơn cho 5 đến 10”; 

– ông Nguyễn-Trung-Thanh, gọi thầy Huế, thầy mo-ranh (morale), thơ bát cú rất có sắc; 

– ông Cao-Đắc-Lỹ (Lợi), sau làm hương-cả làng Khánh-Hưng và bị hại năm 1945-1946; 

– ông Nguyễn-văn-Quyển, ông Nguyễn-văn-Tuân, phụ-tá dạy kèm lớp tư (pre-pa-ra-toa); 

– ông Phan-Thanh-Viên, người Bến-Tre, dạy lớp tư-nhứt, chuyên cú đầu bằng ngón tay giữa đau còn hơn búa gỗ hay búa bổ, theo tôi vẫn đau một thứ;

– ông Nguyễn-văn-Dương, dạy lớp ba, vừa hiền vừa không ăn lót, biết thương học trò; 

– ông Trần-Tấn-Chức, dạy lớp nhì, một ân-sư khó kiếm; 

– ông Trần-văn-Điền, vừa ra lò trường Nọt-manh, lãnh dạy lớp nhứt vì có khả năng; 

– ông Huỳnh-Công-Phát, dạy lớp nhứt trước ông Điền, sau lên lập trường ở Sài-gòn; 

– ông Hồ-văn-Đoàn, người Bà Chiểu, dạy lớp nhì, rồi coi kho sách và thay ông Cross; 

– đặc biệt hơn cả, là ông Nhứt Nguyễn-văn-Dũng, chẳng may mất sớm, cha ông Dương, một cỡ với ông Cẩm (Mỹ-tho), chức giáo-thọ hạng 2 từ 1-1-1896, lúc ông Hồ-văn-Đoàn chỉ giáo-tập hạng 3 từ 16-1-1895. 

Lúc ấy, khoảng 1915, mới là thời buổi vàng son, nhà nào như nhà nấy hực-hỡ lư đồng bóng chói, ván ba ngựa gõ láng ngời, làm ăn thơ thới, lúa đầy bồ đầy lẫm. Học trò ở làng ra tỉnh học tập, làng cấp học bổng, mỗi làng độ vài ba trò, mỗi tháng mỗi trò lãnh năm đồng bạc, đủ đóng tiền cho thầy nuôi chỗ ăn chỗ ở, anh Trần-Vạn-Kim, sau làm bác sĩ, anh Nguyễn-văn-Sâm sau thăng kỹ-sư ngạch Pháp, thành tài cũng nhờ trước học “buộc” (bourse) gọi học trò buộc-xê (boursier), khi lên học trường trên (Mỹ-tho, Chasseloup, Nọt-manh), thêm phát y-phục, giày vớ… sánh lại ngày nay, tiền học-phí đếm số triệu và sau nầy biết chừng nào trông mong gỡ vốn lại, chính ngày nay, cơ-đồ đổ sụp, bác-sĩ phải có giờ lao-công, chưa chắc có chỗ làm, khỏi nói nghề sang như luật sự quan tòa, nay đưa võng ru con hoặc khách sáo, ngâm câu “đưa con cho vợ, may nhờ hột cơm”. Kẻ tốt số thì phi thăng, hoặc nằm năm này qua năm kia, cu-lao Bidon đợi vận. 

Vàng-son mãi ư? Năm 1940 lối đó, kinh tế khủng hoảng tột độ, nhà chành không mua lúa, năn-nỉ cầu xin gần gãy lưỡi, khách-trú nó mua bảy tám cắc bạc một gia, không bán chết đói ráng chịu, gạo trắng chín đồng xu một lít, một ông chủ điền ở Sốc-trăng mắc nợ hãng Địa-ốc ngân-hàng, Pháp gọi Credit Foncier, tiền vốn vay 15.000$ không có trả, hãng giao hồ-sơ cho luật-sư Tây lôi vị chủ điền ra tòa, tòa ra lệnh phát-mãi, Sở ruộng độ 100 mẫu Tây, ra giá 150$ khởi sự, đèn đốt ba cây làm lịnh đều tắt ngủm, không một tiếng nào trả giá lên, khi tắt cây đèn sáp thứ ba, tòa tuyên án hãng tịch thâu sở ruộng, trị giá 150$, chủ điền còn mắc nợ hãng 15.000-150 = 14.850$, chưa kể tiền lời tiền lãi. Không làm cách-mạng đánh đổ chế-dộ ấy chịu sao được? 

Xin chớ quên rằng tuy lúa mất giá, gạo rẻ mạt, nhưng thằng dân không chết đói, tú-tài thi vào ngạch thơ-ký của chánh-phủ, được trả lương 25$ mỗi tháng, 25$ ấy tương đương gần 8 chỉ vàng (mỗi lạng trung bình giá 30$ một 37gram). Ngày nay, bữa nay, vàng lối 80.000 mỗi lạng, tức 40 triệu bạc cũ đời ông Thiệu, vả lại có mấy ai có vàng trừ các ông gộc bự. Khi binh Nhựt chiếm đóng, rau muống của sở ruộng tôi, cọng dài ba bốn thước, heo không thèm ăn, một bó to giá một xu. Có mấy ai lúc đó thèm ăn rau muống? Ngày nay rau muống ngon hơn xưa nhiều, có lẽ vì giá kinh-khủng mấy ngàn bạc một bó con con. 

Tôi lại nhớ tào-lao đến hai chữ “hạnh-phúc”. Một bà phán, chồng làm kinh-lịch ở tòa án đã thất lộc, bà chuyên làm bánh da lợn cho gái ở đội ra phố bán. Bà sở trường ăn chay niệm Phật, nhưng chị ở đội bánh đi bán, giao bán hết bánh mới được về nhà, bán còn dư, bữa ấy nhịn đói. Ban đầu còn ráng đi và lết khuya lơ khuya lắt mới về, sau lại, những đêm mưa dầm dề không khách mua, chị ở bán bánh da lợn, muốn đủ tiền đem về cho bà, phải ngốn dộng bánh cho hết và trải thân làm đi bán trôn thế bánh. Ăn chay tu niệm như vậy à? Ngày nay con cháu trả bằng cách này, đúng là thiên-đạo chí công. 

Xe hơi, ô-tô mắc tiền, lúc đó, chủ phải xin người trong thân lấy ra chạy giùm, để “xạc bình ắc-ku”, ngày nay xe bốn bánh đều bán đổi cơm, xe đạp giá cao và được tiền hơn xe hơi, ố là là, tận thế bây giờ cũng được, càng sớm càng khỏe, đợi chi đến năm 2000, Chúa ơi! 

Ky cóp chắt mót, ăn không dám ăn, mặc không dám mặc, gánh giỏ lượm từ nhánh củi, chạy mau hơn ngựa gánh cá cháy từ chợ Sốc về làng, cá chưa ươn, chèo đò sang sông, thu vét từ xu từ điếu, tụ thiểu thành đa, mua nhà sắm ruộng, sanh con đẻ cháu, mấy nhà triệu-phú xứ quê tôi nay đã tiên-du hạc-cảnh, cháu con mất ruộng vì người cày, ôi hành vân-mộng, may bay gió thoảng, tiền vả chăng bằng giấy, nó bay cái vèo! Đành hát câu: “Thế sự đoản như xuân mộng, nhân-tình bạc tợ thu-vân! Cắn răng cười cười cũng khó khăn, ôm bụng chịu chịu càng vui sướng!” Tôi chỉ tài cóp vặt, và câu này là của ông Đào-Tấn, tuồng Tiết-Cương chống búa, copié. 

Chồng còn ngôi sao, còn đeo lon “con đỉa”, vợ ngồi xe đeo xoàn. Chồng thua giặc bỏ trốn, hoặc ở lại bị bắt đi cải tạo, phu-thê như áo mặc vào cổi ra, giá trị của hạnh-phúc nhẹ như sú-cheng, hay miếng vải ba góc! Tôi nhớ lúc nhỏ, chị Ướng, người Minh hương, cha mẹ nghèo, chị vẫn bán bánh da lợn[1] nuôi gia-đình, nuôi các em trai cho ăn học đến nơi đến chốn. Riêng một mình chị, vô phước làm sao: đính hôn với anh Trần-Thanh-Vân, người Bạc-liêu, học một cỡ với Phan-văn-Hùm, và đồng giỏi Việt-ngữ như nhau. Vân chẳng may bị đau ban cua rồi chết năm đệ tam trường Mỹ-tho, chị Ướng ở vậy không lấy chồng nữa. Khi tôi lên học trường lớn ở Sài-gòn, thì gia-đình chị dọn về tỉnh Châu-đốc, từ ấy tôi không tin tức. Người gái lai Tàu nầy, khá chớ. Gỡ gạc cho danh-từ xấu háy: gái lai, người chưa thật “đúng Ngọ” (xệp-dách tiểm-pun) (11 giờ rưỡi), ai chê được xin giơ tay, tôi phục chị nầy sát đất. Hạng chị Ướng, tôi sắp vào bực trung-lưu, bực gái con nhà khá giả. 

Một gái nữa, cũng ở xứ phèn Sốc-trăng. Không cha. Mẹ làm mướn. Chị có nghề bán guốc, mót từng cây đinh cắt từ dây quai, dành dụm mua được phố, có chồng sanh con, không đánh đôi đánh đọ, thuần nết. Chị nầy vốn thuộc hạ lưu, nhưng giá trị và đem lại hạnh-phúc cho gia-đình, hơn xa giới thượng lưu, bà bác-sĩ chuyên phá thai và hơn một bà con quan, chồng cố đốc-phủ, nhưng chữ trinh-tiết bà xem như bài thơ phải gió. Thơ phải gió, xin hiểu theo tôi, là “thơ mắc dịch”, đứa làm thơ hay quá nên bà cho nó cỡi, một phen hoặc năm khi mười họa, có hư hao gì cái bì-bạch kia… 

Đoạn nầy tôi không dám viết rành, viết rành người đọc sẽ hiểu tôi muốn nói về ai, bà “con quan, vợ đốc-phủ quá cố” này hiện còn… thà tôi cam chịu viết chưa sạch, văn mờ tối, mà tôi khỏi tội nói xấu, nói sơ-sơ đủ hiểu là vừa! 

Duy hạng người này mới thật là tối độc: ly thân với chồng nhưng hai người vẫn sống chung một nhà, chia bơ-sữa nhưng không chung cảnh “ngâm phong vịnh nguyệt”. Nghề chính là “thầy cãi ở tòa”, nay trở nên vô dụng, bà day qua nghề mở quán cơm sang trọng, học qua nghề biết coi đồ cổ và sanh nhai bằng nghề mới “buôn lọ xưa”. Đại phàm người tôi nịnh phải đa tài, thì vua chúa mới nghe: tỷ như Thái-Kinh đời Tống Huy-Tông, hại Huy-Tông mất nước bị cầm tù, chớ tài Thái-Kinh vẫn đứng thứ tư trong tứ kiệt Tô (Đông-Pha), Huỳnh (tôi quên mất tên ông này), Mễ (Mễ-Phi, họa-sĩ đại danh) và Thái (là Thái-Kinh đích thị). Sắc nghiêng nước nghiêng thành không có, bà ta đã sồn sồn, quá nửa chừng xuân, nhưng tài ăn nói vẫn nhiều người lầm, và tôi đây là một. Bao nhiêu cổ vật bà bán, đều gán từ nhà tôi mà ra! 

(4-7-1983) 

Vương Hồng Sển

Nguồn: Vương Hồng Sển, Dở mắm, tr 20, NXB Trẻ; 2016.

[1] Bánh da lợn là gì? Là một thứ bánh, không ngon gì lắm, nhưng rất dễ làm: lấy bột gạo, trộn mớ đường vừa ngọt, khuấy chín đổ vào khuôn, khi bột nguội, lại khuấy bột bỏ thêm màu, khi xanh khi đỏ, hoặc lá dứa hay một màu gì tùy ý muốn (lúc đó quả gấc trong Nam chưa biết dùng), bột chín đổ dồn lên lớp bột trước, muốn bánh có mấy lớp da, cứ khuấy bột đổ thêm, khi xong, bánh da lợn là vậy đó. Tôi không hiểu tại sao tiếng nói trong Nam, vẫn gọi con “trư” là heo, nhưng cái bánh nầy, không gọi “bánh da heo” và vẫn gọi “bảnh da lợn”? Mấy lớp xanh, trắng, thường, có khi thêm một lớp màu vàng, là bột trộn đậu xanh xay nát, “bánh da lợn” tôi đã nói, mùi vị không ngon, duy được rẻ tiền ăn mau no bụng, khi cho chị ở đội bánh đi bán dạo, thì bà chủ nhà cắt bánh ra từng mảnh hình chữ nhật hay cắt xéo xéo kiểu bánh bò, mỗi miếng một xu, của một lời một. Từ ngày tôi biết tích một chị ở mướn thất thân vì bánh ế, và chị Ướng, tuy khỏi hư thân nhưng không lấy chồng, chịu làm gái già thì cũng hư một đời con gái, từ ấy, đi dự tiệc đãi theo ta, mỗi lần thấy cái bánh da lợn, dầu chưa no tôi vẫn buông đũa, nhớ và thương hại mấy cô bạc số và nhiều gái khác cùng chung một cảnh ngộ “thuyền quyên mạng bạc”, không ngờ cái bánh xem hiền mà làm mất trinh biết bao gái miền Nam. 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.