Nguyễn Thị Thụy Vũ với cái nhìn sát cuộc sống

Đầu thập kỷ 60 – tôi không nhớ rõ năm nào – tòa báo Bách Khoa bắt đầu nhận, thỉnh thoảng một thiên truyện ngắn của một người viết mới, thuộc phái nữ, ký tên Nguyễn Băng Lĩnh. Lúc bấy giờ các cây bút nữ giới hãy còn hiếm. Tòa soạn có ý tò mò.

Võ Phiến

nguyen-thi-thuy-vu

Nguyễn Thị Thụy Vũ ( tranh : Tạ Tỵ)

Một hôm ông Ngu Í đi Hậu Giang về, ghé báo quán, đưa ra một tấm hình đen trắng, lớn cỡ tấm bưu thiếp: “Băng Lĩnh nè. Một cô giáo ở Vĩnh Long.” Ngu Í cười hà hà. Anh em có mặt chuyền nhau xem thử, đều đồng ý: Quả giống một cô giáo. Ảnh bán thân, mặc áo dài. Trông nề nếp, đoan trang, hơi e lệ. Người ấy về sau mang bút danh Nguyễn Thị Thụy Vũ, là tác giả những cuốn sách có tên là Mèo đêm, Lao vào lửa, Cho trận gió kinh thiên v.v. Tức là thứ sách mà các thế hệ phụ nữ nước ta trước đó không mấy kẻ dám đọc, đừng nói đến chuyện viết!

oOo

Thực ra không phải lúc nào Thụy Vũ cũng viết truyện “dữ”.

Truyện của bà thường xảy ra ở hai khung cảnh. Hoặc ở quê, hoặc ở Sài Gòn. “Mèo đêm” tung hoành ở Sài Gòn. Còn ở quê, hoặc Vĩnh Long hoặc Mỹ Tho hoặc Lộc Ninh…, là những cuộc đời nhàm chán, mòn mỏi, tàn tạ, dồn nén, đáng thương. Gái tỉnh gái quê sống tù túng, chê tỉnh chê quê, hướng về đô thị. Lên Sài gòn, gái lao vào lửa, tan tác cuộc đời.

Có cả một cuốn truyện dài dành cho cảnh đời mòn mỏi bế tắc ở tỉnh lẻ: cuốn Khung rêu. Có cả một cuốn truyện dài khác dành cho cảnh đời trụy lạc ở đô thị: cuốn Ngọn pháo bông. Nhiều truyện ngắn truyện dài khác bắt đầu ở tỉnh kết thúc ở đô thị.

Chắc chắn không có mấy người Việt Nam hoàn toàn ghét bỏ xóm làng quê kiểng của mình. Riêng ở miền nam, Bình Nguyên Lộc đưa ra bao nhiêu nhân vật cả nam lẫn nữ, hoặc đang sống ở Sài Gòn Chợ Lớn, hoặc Sống trên những ghe thương hồ lênh đênh các sông rạch, mà không lúc nào nguôi nỗi nhớ quê. Sơn Nam kể liên miên toàn những cảnh sống khốn cùng ở miệt Cà Mau Rạch Giá, và ông kể bằng giọng âu yếm. Nguyễn Thị Thụy Vũ trong thâm tâm có lẽ cũng không khác. Vị ni cô trong truyện “Lòng trần” ai mà không kính? Nhân vật bà Điếc trong truyện “Đêm tối bao la”, ai mà không thương? Trong truyện “Lìa sông”, nhân vật xưng “em” là một cô giáo bê bối, mà ông trưởng giáo lại càng tệ; nhưng ai cũng thấy giọng đùa giễu của tác giả không ác độc, chỉ ngụ ý… thương hại! Thương mà chán muốn chết.

Có thể bạn đọc không mường tượng được cái tình cảm phức tạp của bà Nguyễn đối với quê mình đích thực nó ra sao, bởi vậy nên có chút ít dẫn chứng.

Ngôi trường nơi “em” dạy cách tỉnh hơn hai chục cây số, và thiếu an ninh, nên thanh tra ít khi tới. Cô giáo thường dậy trễ, cứ mỗi chiều đã nhờ đứa học trò lớn nhất lớp sáng hôm sau đi học nhớ ghé vào chợ mua bữa điểm tâm đem sẵn vào lớp cho cô. “Em vừa đến lớp, mâm điểm tâm đã dọn sẵn. Một tràng bánh xèo màu vàng nghệ còn nóng hổi, bên cạnh mớ rau tươi xanh mướt. Chén nước mắm ớt đỏ ối quyến rũ hạch nước miếng (…) Em ngồi vào bàn thản nhiên gói bánh xèo vào lá rau xà-lách. Lúc em ăn lũ học trò lầm lũi chép bài do đứa trưởng lớp ghi sẵn trên bảng. Em vừa ăn vừa xõa tóc cho mấy đứa nhỏ nhổ tóc ngứa.” “Em” như thế, chưa có gì quá đáng. Hãy xem ông trưởng giáo: “Ông trưởng giáo trường em mê đi ăn giỗ, ăn cưới. Lúc nào các bậc phụ huynh cũng nhớ tới ổng. Ông thường bỏ lớp cho mấy đứa lớn dạy thế ổng một tuần vài ba lần (…) Ăn uống no say xong, ổng về máng võng, bận xà-rông cho mát rồi nằm đưa kẽo kẹt suốt cả buổi học.”

Cô giáo đùa giễu chỗ quê hương không nể nang, nhưng phải nhận rằng quê hương ấy đối với cô cũng có phần lỗi: ở một chốn quê như thế cô chọn đầu cho ra chồng? Lũ học trò nhổ tóc ngứa cho cô rồi sẽ lần lượt lấy chồng, sinh con đẻ cái lũ khũ, cô giáo vẫn còn là con gái. “Lật bật rồi đây học trò em có cháu, mình phải làm bà cố bà cốc (mà vẫn còn con gái) thì còn gì đời em nữa (…) Có nhiều khi nghĩ tới đây, em ngáp ồn ào, chán đời nhưng không đủ can đảm cắt tóc đi tu.”

Tấm hình mà ông Ngu Í mang về tòa báo Bách Khoa năm xưa chắc hẳn là chân dung một đồng nghiệp của nhân vật cô giáo trên đây.

Bạn đọc không chừng có kẻ ngạc nhiên: Ở miền quê của cô giáo này có phóng khoáng dễ dãi quá chăng? Đâu phải nơi nào thiếu an ninh thì các thầy trưởng giáo đều đi ăn giỗ về máng võng tại lớp học, mặc xà-rông nằm lim dim “phơi bụng, thịt da chảy nhì nhùng”, mùi rượu đế nặc nồng một góc lớp?

Tôi nghĩ đó là một thắc mắc chính đáng. Đây đó bà Nguyễn tiết lộ khá nhiều về phong tục, về tính tình, về nếp sống của người dân địa phương mình. Có điều tốt điều xấu, chỗ hay chỗ dở; tựu trung quả nhiên con người và nếp sống có xuề xòa dễ dãi.

Trong truyện “Đêm tối bao la” bà nội Cô Linh là con nhà giàu ở Mỹ Tho, khi về làm dâu tận Vĩnh Long có đem theo một người con gái nghèo cho có bạn. Cô gái ấy ở luôn lại Vĩnh Long làm người giúp việc cho gia đình; về già thành ra bà Điếc, tính tình dở dở ương ương. Vào tuổi sáu mươi, có lần bà Điếc muốn uốn tóc, má cô Linh can; bà Điếc túm bà chủ quật xuống thềm nhà, dìm xuống, leo lên mình bà chủ đấm đá túi bụi. Mọi người xúm vào lôi bà Điếc ra. Bà chửi: “Mồ tổ cha nó, ai cũng binh nó hết.” “Hàng xóm được dịp cười đùa bàn tán, không khí vui tươi có cơ hội hâm sôi lên trong khu xóm buồn tẻ này.” Một biến cố như thế xảy ra giữa chủ tớ ở nhiều miền khác khó gây được không khí vui tươi.

Trong cuốn Cho trận gió kinh thiên, cô Nguyệt là gái mới lớn ở tỉnh, mới gặp mối tình đầu, chẳng may bị phụ bạc. Nghe tình nhân bắt bồ với người khác, Nguyệt nổi dóa, cặp ngay với Đồng để trả đũa, rủ nhau đi Sài Gòn sống, tránh xa một kỷ niệm buồn. Một con bạn thân biết chuyện, tính khuyên can, hỏi Nguyệt đã nghĩ kỹ chưa. “Nàng nghĩ làm gì cho mệt óc chớ? Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài.” Quả là Đồng chít một mắt, đích thực chồng xấu. Thế là Nguyệt – Đồng cặp nhau đi tuốt. Chuyện vợ chồng ăn đời ở kiếp mà quyết định rụp rụp như thế, là dễ dãi chứ còn gì nữa?

Như vậy chúng ta thấy cái ngột ngạt ở tỉnh lẻ ở miền quê không phải là sự câu thúc của một nếp sống gò bó theo tục lệ quá chặt chẽ. Nguyệt cũng là gái học thức như Loan; nhưng xã hội của Nguyệt không phải là xã hội của Loan, thời đại của Nguyệt không còn là thời đại của Loan (trong Đoạn tuyệt) nữa.

Quê không đến nỗi khắt khe, đáng trách; nhưng – như đã thấy ở trường hợp cô giáo vừa rồi – tuổi xuân ngắn ngủi mà tỉnh quê không cung cấp nhiều cơ hội. Mặt khác, cái tiếng gọi của đô thị mỗi lúc mỗi khẩn thiết. Đã từ lâu, đô thị vẫn thu hút gái quê: trong các tiểu thuyết thời tiền chiến đã có bao nhiêu là gái quê tan nát đời hoa vì những ảo tưởng về đô thị. Càng về sau này, sức hút của đô thị càng mạnh. Cô Linh trong truyện “Đêm tối bao la” kể tội những “xấu xa” của chỗ mình đang ở, tức chỗ tỉnh lẻ: “mỗi buổi chiều, khi tiếng chuông của một ngôi chùa xa âm u vọng tới” “bóng tối bôi xóa lem luốc những cánh cổng sà bên khung cửa sổ, mái nhà và dòng sông”, “bóng tối của căn nhà này, bóng chập chờn của rèm sáo, đàn dơi trong nắng chiều”… (Chiều mênh mông, trang 35). Cô nghĩ tới đô thị: “Em nhìn ra một chân trời khác. Em sẽ tìm yên ổn cho mình. Nơi đó, em chỉnh đốn lại cuộc đời. Đểrồi anh xem!” Đầy tin tưởng, cô Linh dứt khoát: “Em phải đi, phải đi.” (trang 68). Ai mà can nổi!

Đối với những cô gái chưa chồng, đô thị là chỗ tập trung những chàng trai hào hoa giỏi giang nhất, là chỗ có điều kiện đầy đủ nhất để chỉnh đốn cuộc đời, để kiếm một tấm chồng xứng đáng: “Chồng của em! Em thì thầm kêu ba tiếng đó, xúc cảm đến ràn rụa nước mắt.” (trang 115). Ai mà can nổi! Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi. Kéo cả nhau lên Sài Gòn thôi.

oOo

Nguyễn Thị Thụy Vũ mang tiếng viết “dữ” là cũng vì cái Sài Gòn này đây. Cuộc sống ở Sài Gòn quả có những phương diện rất dữ.

Vừa rồi có nói qua loa về thời của Loan và thời của Nguyệt. Từ tỉnh lên đô thị, cái đổi mới càng sâu xa hơn. Ý thức về nữ quyền, quan niệm về tự do cá nhân, về đời tư thiêng liêng v.v. càng được xác định mạnh mẽ.

Cô Loan yêu Dũng, nhưng từ khi lấy chồng là quyết định chôn sâu dĩ vãng, cố gắng sống hạnh phúc với Thân. Còn cô Nguyệt, trong thời gian chung sống với Đồng, thỉnh thoảng Nguyệt nhớ lại mối tình cũ, lấy thư tình nhân ra đọc. Đồng cự nự: “Nếu cô không cất đi, tôi xé hết cho mà coi.” Nguyệt phản ứng liền: “Tôi thách anh đó. Đâu anh động tới những bức thư này, rồi sẽ coi tôi đối phó ra sao?(Cho trận gió kinh thiên, trang 82).

Lần sau, Nguyệt muốn quên chuyện xưa, tự ý lấy thư tình ra đốt, rồi thu dọn tro tàn cho vào hũ. Đồng muốn nàng vất luôn mớ tro, Nguyệt thẳng thừng: “Tôi không chấp nhận bất cứ thằng đàn ông nào hẹp hòi ích kỷ, bươi móc tâm tình riêng tư của tôi.” Nàng tháo nhẫn, dây chuyền, hoa tai v.v. trả lại Đồng, bảo anh ta đi “tìm người con gái nào không có tì vết trong quá khứ để làm vợ”. (trang 165).

Quan niệm về một “thằng đàn ông hẹp hòi” ấy là một quan niệm mới toanh. Thời Tự Lực văn đoàn chưa có, mà thời Nguyễn Thị Vinh – Linh Bảo tưởng cũng chưa xuất lộ sỗ sàng như thế.

Rốt cuộc Nguyệt theo một người Mỹ, bỏ Đồng. Lấy Mỹ là giải pháp cuối cùng mà nhiều cô gái quê về đô thị đã chọn để gỡ những khó khăn bất ngờ trong cuộc sống mới ở chỗ xa lạ. Có thể cô Linh bỏ “đêm tối bao la” đi tìm chân trời khác để chấn chỉnh lại cuộc đời, có thể cô ta cũng chấn chỉnh theo cách cô Nguyệt. Nhân vật của bà Nguyễn rất nhiều cô đi bán “ba”, làm vũ nữ, và… lấy Mỹ. Tác phẩm đầu tay của bà (Mèo đêm) ra đời vào năm 1966: đó là lúc mà thôn quê bất an khó sống và lính Mỹ đầy dẫy ở đô thị.

Tập tục mỗi lúc một cởi mở thêm, nếp sống mỗi lúc một lỏng lẻo thêm, xu hướng tự nhiên vẫn thế. Hoàn cảnh bất an, bạc tiền của ngoại kiều lại thổi mạnh gió kinh thiên. Cái đô thị của bà Nguyễn là cái đô thị trong cơn gió ấy.

Nguyệt vi Đồng là hạng học thức, trong vấn đề của họ có chuyện quan niệm này nọ, chuyện nữ quyền, chuyện riêng tư cần tôn trọng v.v. Ở tầng lớp bà Tư với anh Tám-Xe-Be vấn đề thay đổi nếp sống đặt ra cách khác. Cô Lan, con gái bà Tư theo Tám-Xe-Be là kẻ đã có vợ. Đang đêm, bà Tư nằm trong nhà, Lan với anh Tám quấn quít đùi đụi trên sàn ván ngoài bao lơn. Bà Tư cất tiếng hỏi, mắng mỏ hai đứa bậy bạ. Ban đầu nói chuyện phải trái, họ biện bạch leo lẻo. Rốt cuộc bà Tư chỉ chú trọng vào điểm then chốt: “Nhà có ván, có giường mà bay làm gì dắt nhau ra chỗ bàn thờ ông Thiên vậy hả? Bay có biết chỗ đó là chỗ thờ phượng không?” Điểm trọng yếu cần nhắc đi nhắc lại: “Con người ta phải biết chọn chỗ, chọn nơi, chớ có lý đâu nhè chỗ thờ trời thờ đất mà…” (trang 176). Lời giáo huấn của mẹ đã rõ: Phàm con người mà biết chọn chỗ chọn nơi, tránh bàn thờ ông Thiên ra, thì ai với ai mà chả được, làm chuyện gì với nhau mà chả được!

Xung quanh bà Tư, cuộc sống thật rộn ràng náo nhiệt: bói toán, cúng quải, làm đĩ, bán “ba”, đánh bài, và… lấy Mỹ, tất nhiên. Làm gì cũng làm đến nơi đến chốn, không có mức giới hạn. Muốn đánh bạc hả? Thì cứ hết chếnh này kéo chếnh khác, liền ngày liền đêm, cho đỡ sầu đời. Không thấy sao? Bà Cam chết quay lơ nằm đấy, bà Tư lên gác, tiếp tục đánh bài, có sao đâu? (Cho trận gió kinh thiên, trang 292). Ngay chính lúc ông Tư hấp hối, có người chạy tới sòng bài, gọi bà Tư về xem ông muốn trối trăng gì không, bà Tư cần phải đánh cho “đứt chếnh”. Lúc bà về, ông Tư đã “đi” từ hồi nào (trang 296).

Làm đĩ hả? Lấy Mỹ hả? – Ủa, việc gì ngần ngại chứ? Bộ không nghe bà Năm Út là bậc trưởng thượng dạy dỗ chị Thu sao? Chồng đi lính, chị Thu ở nhà đi khách, chồng về làm dữ. “Năm Út vẹt đám đông, oang oang:

-Thằng Mẹo nó làm gì mầy đó Thu?

– Nó ghen đánh em nè chị Năm.

– Tam đại tứ đại, cao tằng cố tổ con đĩ mụ nội nó. Nuôi người ta không nổi mà còn ghen tương nỗi gì?” Bà chỉ vẽ đường đi nước bước:

– Mầy là con đĩ ăn cám uống hèm nên ngu si đần độn. Mầy bỏ thằng chả rồi đi lấy Mỹ. Hơi nào nay ‘dù’ mại ‘dù’ để nó bắt được đánh đập nhừ tử như vậy?” (trang 78)

Thế giới tiểu thuyết của Nguyễn Thị Thụy Vũ đầy những câu chuyện như thế. Đàn bà cầm bút, đa số viết chuyện tình ái hoặc lâm ly hoặc éo le, chuyện vui chuyện buồn loanh quanh trong gia đình, giữa các chàng với các nàng v.v. Bà Nguyễn xông vào cơn gió bụi, phanh phui những cảnh đời lầm than, làm lắm kẻ sững sờ, nhăn mặt.

Ở nước ta, từ trước tới nay chuyện bà Nguyễn làm là chuyện của đàn ông. Nam phái vẫn xông xáo hơn nữ phái. Chuyện kéo xe, người ngựa ngựa người, chuyện làm đĩ, chuyện lục-xì, móc túi, đánh cướp, buôn lậu v.v. thường do các ông tìm hiểu và kể lại cho nhau nghe. Các bà các cô không tiện tìm, không tiện kể, mà cũng không mấy thích nghe. Bà Nguyễn là người đàn bà khác thường. Tôi ngờ không hẳn do năng khiếu, chẳng qua do một trường hợp ngẫu nhiên. Có một độ, hình như lúc mới từ dưới tỉnh về Sài Gòn, bà đã dạy Anh văn cho những cô gái có công việc làm ăn giao thiệp với Mỹ, hay có chồng Mỹ. Nhiều người trong số ấy đem tâm sự ra tỉ tê với bà. Cuộc đời và tâm tình họ xúc động bà, thành đề tài sáng tác của bà. Người đọc nhận thấy trong các truyện của bà Nguyễn thỉnh thoảng có một cô giáo Anh văn xuất hiện. Tình cờ, vì lý do sinh kế, mà bà Nguyễn làm cây bút tả chân đầu tiên ở xứ ta, về phía nữ phái, mạnh dạn phơi bày một phương diện của thực trạng xã hội ta vào một thời điểm đặc biệt. Bà có vị trí riêng trong thời kỳ văn học bấy giờ.

oOo

Ông Uyên Thao, trong cuốn Các nhà văn nữ Việt nam 1900-1970, đã viết “Mèo đêm Lao vào lửa là hai tác phẩm đầu tiên của nữ giới đã gây ồn ào trong dư luận giới đọc sách tại Sài Gòn” (trang 358). Cuốn biên khảo này xuất bản năm 1973, được viết từ cuối tháng 1-1970 đến cuối tháng 5-1970, chỉ cách xa ngày ra đời của Mèo đêm có 4 năm. Gần như thế, chắc chắn cái ghi nhận của ông Uyên Thao về tác động sách bà Nguyễn đối với dư luận phải chính xác.

Sách bà chấn động mạnh là do nội dung chứa đựng những dữ kiện có sức chấn động, tất nhiên, như đã nói trên đây. Một phần khác cũng do cái văn phong của bà.

Đâu đó, thỉnh thoảng có người nói đến tiếng “khiêu dâm”. Tôi nghĩ nếu có ai nghĩ thế là nghĩ oan cho bà. Trong các cây bút phụ nữ bấy giờ, không thấy ai có dụng ý khiêu dâm cả. Viết bạo thì có, đề cập tới chuyện này chuyện kia, có thể rất tục tĩu thì có; nhưng có lẽ không hề với dụng ý khiêu khích người đọc, với dụng ý làm cho người đọc thèm muốn cái gì. Không phải nói bạo là khiêu. Có thể chỉ mơn man nhè nhẹ, xa xa, mà lại khiêu lại gợi dục vọng; trái lại cứ nói oang oang “đủ thứ” mà lại lành, không hậu ý, không tác dụng. Như thế chỉ nên chê là sỗ sàng thôi.

Số sàng, bà Nguyễn không ngại đầu. Nguyên về cái tấm thân hình của nam nữ hai phái, các nhân vật của bà hoặc khen hoặc chê, thường nói huych toẹt không kiêng kỵ. Trong Chiều mênh mông: “Đôi vai rộng và cái mông tròn của chàng ngày trước đã lôi cuốn sự chú ý của tôi” (trang 33). “Chỉ nghĩ đến nếu người tình của mình có cái thân mỏng lét như bộ ngực của đa số các nhà văn ở nước ta và bộ đùi lạnh lẽo, màu da xanh lét của họ tôi cảm thấy buồn nôn” (trang 72) “Tiếng ngáy Hà ồ ạt như cưa gỗ, đôi chân khẳng khiu của chàng làm tôi vụt buồn nôn” (trang 103). “Thiếu phụ quay vào vách kẹp chiếc gối ôm giữa cặp đùi đầy thịt. Chỉ chừng nhai giập bã trầu, tiếng ngáy của nàng lảnh lót sôi lên” (trang 142) v.v.

Về chuyện chung chạ, ngay khi mẹ nói với con gái, lời nói của nhân vật bà Nguyễn cũng trắng trợn hơn lời lẽ các nhân vật xưa nay. Trong Cho trận gió kinh thiên, bà Tư mắng cô Lan về vụ bậy bạ với tình nhân ngoài bao lơn: “Mèn ơi, mỗi khi mình mở miệng niệm Phật ở trong này thì ở ngoải tụi nó làm đùng đùng như cù dậy.” Lát sau Lan toan chối cãi: “Làm giống gì mà phải mang bầu?” thì bà lại nói toạc: “Thì làm đùng đùng như con cá sấu đập đuôi bánh lái ghe chài chớ còn làm giống gì nữa?” (trang 177)…

Kể ra, căn cứ vào những câu như thế mà nói về văn phong của Nguyễn Thị Thụy Vũ là không đúng. Viết về giới bình dân, bà phải ghi đúng ngôn ngữ của họ.

Ở những chỗ khác, không phải đối thoại giữa nhân vật mà là văn của tác giả, người ta thấy trong lối nói cũng có nhiều tục ngữ ca dao, nhiều ví von thú vị, gần với ngôn ngữ bình dân. Chẳng hạn: “Đó là một hành động buông xuôi, phó cho cuộc đời đưa đẩy cho cùi mít trôi lên gặp cùi thơm trôi xuống” (Cho trận gió kinh thiên, trang 164). “Mới có bốn mươi ngoài tuổi mà mặt nó nhăn nhúm như cái quần nhét ống tre” (trang 185). “Món giải trí của em vào buổi tối là đọc tiểu thuyết tình. Em chia sớt hoàn cảnh các nhơn vật cả muỗng nước mắt.” (Chiều mênh mông, trang 117) v.v.

Riêng về chỗ câu nói nhiều ví von và xen nhiều tục ngữ phương ngôn này, Thụy Vũ với Túy Hồng, hai bà Nguyễn gần nhau. Và cả hai, họ tách xa các bậc tiền bối nữ phái, xa những điệu bộ khuê các; mà gần, gần sát cuộc sống. Đó là cái mới của họ, cái làm cho họ gây xôn xao.

Võ Phiến

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.