Vương An Thạch, một nhà Nho có óc duy tân cứu quốc

Thần tông lên nối nghiệp (năm 1068) giữa lúc nước nhà trông như pho tượng có bề ngoài chạm trổ tuyệt đẹp, sơn phết bóng nhoáng mà bên trong thì mối mọt đục ruỗng tứ tung.

Đào Trinh Nhất

Vương An Thạch

Vương An Thạch

 Cái hình dung ấy đúng.

Trung Quốc trải mấy đời vua đầu nhà Tống, chính trị, văn hóa, nghệ thuật, nho học, nhất nhất mở mang tới chỗ tận thiện tận mỹ. Nghề kiến trúc và nhiều môn kỹ nghệ cũng phát triển lạ thường, có vang bóng sâu xa tới Nhật Bản cùng Việt Nam ta đều lấy làm khuôn mẫu. Có thể gọi là một thịnh thế, so sánh với những lúc Hán – Đường toàn thịnh chỉ có phần hơn. Nhất là về tư tưởng triết học, Tống nho tự nẩy ra một đặc sắc mà Hán – Đường không có.

Ấy, lúc Thần tông mới nhận hương hỏa tổ phụ để lại cho, Trung Quốc về mặt văn minh tinh thần có vẻ rực rỡ mới lạ, đại khái như thế đấy. Nhưng khốn nỗi lực lượng sinh tồn thì suy đốn thảm hại. Tài chính nhà nước vẫn eo hẹp, thiếu trước hụt sau; dân sinh vẫn chật vật vì các thứ thiên tai nhân sự bao vây bắt buộc; binh lực và khí giới vẫn đồi tệ không đủ bảo vệ quốc gia; tình cảnh ngoại giao vẫn phải chịu lép vế cúi mình ở trước hai nước cường lân Liêu, Hạ sách nhiễu dọa nạt không ngớt. Tóm lại một câu: Trung Quốc y nhiên nghèo hèn.

 Thần tông thấy nước mình dân mình tích lũy nghèo hèn, trong lòng vô hạn buồn rầu, phẫn uất.

Bởi thế, ngay khi mới lên ngôi, ông không hào hứng vì được đặt mình vào danh vị cao quí nhất đời, chỉ thấy trách nhiệm nặng mà lo, quốc gia bần nhược mà buồn. Đến nỗi sớm tối nghĩ ngợi thở than, không có sắc vui thoáng trên nét mặt.

Kẻ tả hữu khuyên nên săn bắn giải khuây, ông thở dài và trách:

– Các ngươi không khuyên bảo ta điều gì có lợi ích hơn là săn bắn ư? Xã tắc thương sinh ở trong tình cảnh này, ta lo nằm gai nếm mật còn chưa đủ ngày giờ, còn nỡ lòng nào tìm cách vui chơi ích kỷ!

Người ta lại bàn sửa sang cung điện, sưu tầm trân bảo để bày biện bên trong cho đẹp, ông cũng gạt đi:

– Ta không nỡ lòng vui chơi ích kỷ, lẽ nào lại phung phí của kho để làm việc tự phụng xa hoa bằng cung điện trân bảo? Ta nghe nói ông vua lấy thiên hạ làm nhà; than ôi! Tòa nhà thiên hạ của ta hiện đang dột nát mà chưa tu bổ được kia kìa!

Ông thức khuya dậy sớm, chăm lo chính sự, cách ăn ở rất kiệm ước, luôn luôn để ý đến lợi bệnh của dân và băn khoăn về nỗi quốc gia bần nhược đắm đuối, tự lấy làm điều hổ thẹn.

Thường ngày cùng các quan đại thần bàn bạc việc nước, ông ngỏ ý thiết tha quả quyết:

– Ta có chí muốn làm thế nào phá được Liêu, diệt được Hạ để rửa nhục cho nước nhà, khiến Trung Quốc trở lại vẻ vang cường thịnh thì mới cam lòng. Khốn nỗi nước ta nghèo quá, chẳng đủ tài dụng thì ý muốn ấy thực hành làm sao được!

Dù chưa nói ra, trong tâm não nhà vua đã nẩy ra cái mầm suy nghĩ cải cách chính trị. Thời đại nào kỷ cương ấy, chính trị có sửa đổi tốt lành thích hợp thì nước mới giàu, dân mới mạnh, điều kiện thiết yếu để thực hành chí muốn kia cho được thành công kết quả. Các quan đại thần chấp chính lúc ấy tuy phần đông là bậc danh nho túc học, nhưng ông nào cũng đầy óc thủ cựu, không bày tỏ được ý nghĩ gì khác hơn là giữ gìn nền nếp tiên vương; đến chỗ nhà vua đang lo tài dụng nhà nước thiếu thốn hẹp hòi thì các cụ chịu phép, chẳng có chính kiến nào mạnh bạo mới mẻ hầu giải quyết được vấn đề to tát ấy.  Thần tông nghĩ thầm, với những đại thần thủ cựu này mình không thể thi thố được gì mới.

 Nhân lúc xem lại những bản tấu sớ tiến triều, thấy tập phong sự (葑事 – tờ tấu hay là bản điều trần ý kiến) của Vương An Thạch dâng lên Nhân tông hoàng đế từ mấy năm trước, nói về việc sửa đổi giáo dục, rèn đúc nhân tài, toàn là ý kiến mới, Thần tông đọc đi đọc lại, tán thưởng trong trí:

– Phải lắm, việc trị hễ ai có thực tài thì dùng, không nên câu nệ ở chỗ làm quan lâu hay mau, vị thứ cao hay thấp!

Nhà vua bắt đầu nhận thấy họ Vương có tư tưởng khác hẳn đương thời, rắp tâm trọng dụng. Lúc ấy Vương đang làm quan tại triều, ở một chức vị thấp nhỏ.

*

Vương An Thạch 王安石, tự là Giới Phủ 介甫, hiệu Bán Sơn 半山, người ở Lâm Xuyên, tỉnh Giang Tây, sinh năm Tân dậu (1021), cuối đời Tống Chân tông.

Thiếu thời đã nổi tiếng tài cao học rộng, văn chương hay, đọc khắp bách gia chư tử, thông suốt cả tư tưởng Phật, Lão. Bạn đồng học gọi là kho sách sống.

 Họ Vương tự phụ tài học, trong thiên hạ không chịu nhường ai, nhưng đối với Chu Đôn Di thì tỏ lòng kính mộ về đạo học và nhân phẩm. Lúc ông tổ Lý học đời Tống phát minh ra thuyết “Vô cực mà Thái cực” 無極而太極,chính là cái uyên nguyên sự học hình nhi thượng của Khổng giáo, Vương bị xúc động rất mạnh đến nỗi quên ăn quên ngủ hết mấy ngày.

Về sau lại kết giao thân mật với Trương Tải và anh em họ Trình, mặc dầu tư tưởng đôi bên thỉ chung trái nghịch.

Vương thi đỗ tiến sĩ rất trẻ; văn tài làm rung động trong nước.

Lúc bấy giờ Âu Dương Tu đang làm quan ở triều và đã dậy tiếng là một nhà văn học đại gia, xem văn của Vương chịu là thiên tài, bèn tiến cử lên vua Nhân tông làm chức gián quan, vì nghe Vương có tính ngay thẳng dám nói.

Nhưng Vương từ chối, không muốn làm chức gián quan; ý hẳn lúc đó ông ta đã bão phụ sửa đổi việc nước, mà đương thời triều đình trên dưới đều khư khư chấp nê thủ cựu không biết tùy thời biến cải cho được lợi nước phúc dân; mình ở ngôi gián quan, chẳng lẽ thấy việc trái nghịch dân sinh quốc kế mà làm thinh không nói, hay là nói ra chẳng ai biết nghe, chỉ tổ rước lấy oán hờn vô ích. Mà nhắm mắt chiều theo thói đời, cho được vững vàng danh vị bổng lộc và thăng quan tiến chức cho mau, thì thiện tính ông không làm thế được. Chi bằng từ trước là hơn.

Âu Dương Tu sốt sắng vì nước tiến hiền, rất mến tiếc tài năng của Vương An Thạch, cho nên cách sau ít lâu, lại đem giới thiệu với triều đình một lần nữa.

Lần này, Nhân tông dùng Vương làm chức quần mục phản quan. Chức này, nếu chúng tôi không hiểu lầm, cốt xem xét công việc của các quan thú mục, đại khái như chức thanh tra chính sự đời nay.

Sau Vương xin đi trấn nhậm Thường Châu một độ; kế được lệnh đổi qua chức Đề điểm hình ngục ở Giang Đông, tức là quan ân.

Không bao lâu, Nhân tông lại vời về triều làm Độ Chi phán quan, trông nom việc thu phát thuế má lương tiền của nhà nước. Hồi này nhà Tống vẫn phải chiếu lệ nộp tiền tuế cấp cho hai nước Liêu, Hạ, càng ngày càng nhiều thêm, mà nguồn lợi thu nhập chỉ có chừng đỗi eo hẹp; rủi năm nào nông tang mất mùa lại còn thiếu hụt là khác. Triều đình giao cho Vương An Thạch công việc làm tiền, vì xét biết tài ông, ngoài ra văn hay học rộng, lại thạo cả khoa độ chi, ngày nay ta gọi là lí tài hay kinh tế.

Tuy thế, lúc này ông vẫn phải làm theo mệnh lệnh nhà vua phụ thuộc vào quyển tể tướng, không đem sở chí hay sáng kiến của mình thi thố gì được khác hơn thói quen lệ cũ.

Những khi ra quận về triều, giong ruổi trên đường sĩ hoạn, ông thường có dịp cùng các bạn đồng liêu và chỗ văn chương thanh khí, đem cảnh ngộ bần nhược của nước nhà hiện tại làm câu chuyện thở than, bàn bạc. Một kẻ làm quan, bụng dạ tầm thường ích kỉ mới không nghĩ gì đến nước đến dân, chỉ cầu lấy nhiều lộc bền ngôi, vợ con no ấm là mục đích cao tột. Chính người đời Tống đã có cấu phong dao mai mỉa: “笑罵還他笑罵,好倌還我為之” Tiếu mạ hoàn tha tiếu mạ, hảo quan hoàn ngã vì chi, nghĩa là: “Quan sang, ta cứ việc làm, mặc ai cười mắng đến nhàm thì thôi”. Nhưng một người làm quan có chí khí cao thượng thì chẳng thiết gì cái hư danh, chỉ lấy nó làm phương tiện để thi hành chí nguyện mình là cái thực sự lợi dân cứu quốc. Vương An Thạch không giấu giếm sở chí sở vọng mình làm quan chỉ cần có thế.

Trong một cuộc hội ẩm với anh em họ Trình và Trương Tải, ông tha thiết ngỏ ý:

– Các ông chuyên về đạo học, tôi thích làm chính trị, mỗi người một việc. Tôi ôm nặng bên lòng cái chí nguyện làm cho quốc gia phú cường mà chưa biết ngày nào mới được thực hiện. Có điều muốn cho quốc gia phú cường, trước hết phải biến pháp

– Ông nói biến pháp là biến thế nào? Trương Tải chận lời và hỏi.

– Nghĩa là sửa đổi tất cả phép tắc không còn thích hợp với đời nay! Họ Vương đáp.

– Thế thì bao nhiêu thành pháp của tiên vương rồi bỏ đi hết, không đáng bắt chước nữa ư? Trình Di ngạc nhiên hỏi vặn.

An Thạch cười gằn và nói một cách trực tiệt không còn nể lời:

– Chết rồi! Các ông hủ nho khư khư câu nệ ở chỗ bắt chước tiên vương, chẳng trách việc thiên hạ cứ lẩn quẩn thế mãi, không có gì mới!… Bắt chước phép của tiên vương là bắt chước cái tinh thần thôi, không cần phải bắt chước cái chế độ của tiên vương đâu. Việc trị thiên hạ phải tùy thời cải cách cho được thích hợp, làm lợi cả dân lẫn nước… Ta lấy sức của thiên hạ để sinh ra của cho thiên hạ, lấy của thiên hạ để dùng vào việc thiên hạ. Từ xưa phép trị thiên hạ chưa từng lấy của không đủ làm lo, chỉ lo không có cái đạo trị của mà thôi. Cái thuật cường dân phú quốc của tôi cốt tử ở đó!

Tư tưởng ấy thật lạ tai nghịch ý hết thảy người đương thời và chỉ tỏ Vương An Thạch đã ôm chí lớn duy tân biến pháp ngay từ hồi còn ở quan chức nhỏ. Các nhà thủ cựu bảo nhau lo trước một ngày kia họ Vương đắc chí, tất làm cho thiên hạ bối rối đảo điên. Mà một người có tài học danh vọng như Vương, tự nhiên sống lâu lên lão làng, không khỏi một ngày kia đến lượt nắm lấy đại quyền trong tay và thi thố theo như sở nguyện.

Tống sử chép rằng Thiệu Ung đã tiên tri việc ấy từ mấy năm trước.

Thiệu Ung 卲癕, tự là Nghiêu Phu 堯夫, người tỉnh Hà Nam, sinh năm 1011 (tức năm Tân hợi, giữa đời Chân tông), cũng là một nhà xưởng khởi Lý học, mà chuyên về Tượng số học, phát huy những lí thuyết kinh Dịch và kinh Thái huyền của Dương Hùng đời Hàn. Cái học của Nghiêu Phu đến chỗ tinh vi huyền diệu, tuy phảng phất giống như tư tưởng họ Lão, nhưng kì thật nguồn gốc vẫn giữ đúng tông chỉ đạo Nho. Người đời bấy giờ tôn là một bậc đạo học, thêm có tài biết trước mọi việc họa phúc.

Sử nói dưới triều Anh tông, nghĩa là đời vua trước Thần tông, một hôm Thiệu Ung với bạn cùng đi hóng mát trên cầu Thiên Tân, bỗng nghe tiếng chim quyên kêu, trong lòng bâng khuâng vẻ buồn hiện trên nét mặt.

Bạn lấy làm lạ, hỏi:

– Tại sao bỗng dưng nét mặt ông buồn rầu thảm đạm thế? Thiệu Ung thở dài và nói:

– Đất Lạc Dương thuở trước không có chim quyên, nay nó mới đến là một. Thiên hạ sắp được yên trị, thì khi đất đi từ bắc qua nam; sắp phải rối loạn, thì từ nam qua bắc 天下將治則池氣自北而南,將亂寺而南北. Nay khí đất phương nam đến rồi, giống chim cảm thụ khí đất trước người ta. Rồi xem, chỉ trong hai năm nữa, nhà nước sẽ dùng người phương nam làm tướng, phần nhiều cất nhắc người phương nam với nhau, chuyên việc sửa đổi lối cũ phép xưa; từ đó thiên hạ tất là đa sự.

Lúc nhà tượng số học nghe tiếng chim quyên, đoán trước thế vận là lúc Vương An Thạch đang làm chức Đề điểm hình ngục ở Giang Đông, sắp về kinh làm Độ chi phán quan.

Kế đến Anh tông mất, con lên nối nghiệp tức là Thần tông.

Biết tài bác học của Vương, Thần tông phong làm Hàn lâm học sĩ kiêm chức Thị giảng để thời thường hầu vua đọc sách.

Vua lại biết ông có lập chí cứu quốc nồng nàn, ám hợp với chỗ thâm tâm mình vẫn ôm ấp, mong mỏi, liền vời riêng ông vào nội điện, hỏi về quốc gia đại kế. Vua có ý muốn trọng dụng ông một cách vượt bậc, nếu xét quả có tài chính trị và kế hoạch cứu quốc có thể thực hành.

Quân thần đối diện đàm tâm có vẻ thân mật. Quan Hàn lâm học sĩ họ Vương trong những giờ khắc này, được nhà vua lấy mắt xanh ưu lễ như Tề Hoàn công với Quản Trọng hay Tần Hiếu công với Thương Ương ngày xưa vậy.

Thần tông nói:

– Bấy lâu nước nhà đắm đuối bần nhược, bên trong thì kho tàng trống không, dân sinh túng bấn, bên ngoài thì di địch thi hùng hống hách, được đằng chân lấn đằng đầu, sách nhiễu hiếp bức mãi không thôi; nông nỗi ấy ta nghĩ đến lúc nào lấy làm đau đớn hổ thẹn lúc ấy. Ta vẫn có chí muốn phấn phát thi vị thế nào để khôi phục uy danh, cứu vãn nguy cuộc cho nước nhà, nhưng xem trong triều thần toàn là người cố chấp thủ thành, không ai giúp ta đạt được sở nguyện. Nghe nói nhà người hằng lập chí độ dân cứu nước, vậy cái thiện sách ấy thế nào, nhà người cứ thực tình bày tỏ cho ta nghe.

Vương An Thạch nhận thấy ý vua ân cần lại trúng điều mình mơ ước, bèn thành thực tâu:

– Quả thật hạ thần đã xây dựng trong trí cái đạo phú quốc cường binh, chỉ mong gặp đấng minh quân tán thành thi thố…

 – Thế ư? Thần tông vừa nghe nói, hớn hở hỏi dồn, ra vẻ nóng ruột. Cái đạo phú quốc cường binh của nhà người ra sao, nói mau cho ta biết nào?

– Nhưng chỉ e nói ra bệ hạ không thể thực hành được thôi!… Vương ung dung trả lời.

– Ô! Tại sao thế?

– Tâu bệ hạ, cái đạo phú cường của thần, trước nhất là phải biến pháp, cho nên khó lòng, chả biết triều thần hay phong tục có để cho bé hạ làm không? Và chính bệ hạ có chịu rời bỏ thói quen mà làm được không?

– Ngỡ là gì? Việc trị nước là phải tùy thời biến thông lẽ tự nhiên xưa nay vẫn thế, nào có lạ chi! Ta hiểu nghĩa tùy thời lắm, nhà người chớ ngại.

– Vâng, bệ hạ sáng suốt, hiểu nghĩa tùy thời như thế, thật là hồng phúc cho nhà nước… Nhưng mà ở đây thần nói biến pháp, là một cuộc sửa đổi to tát, sửa đổi rất nhiều, không phải chỉ một hai việc… Từ chính trị, lí tài, giáo dục, khoa cử, học thuật, binh chế, cho đến nông tang, thương mãi, quốc tục, dân phong, nhất nhất phải cải cách tận gốc mới mong tới được thực hiện phú cường… Thần chỉ e bệ hạ sợ cuộc biến pháp thế ấy, không dám mạnh bạo thi hành thôi!

– Không!… Không!… Ta không sợ biến pháp đâu. Biến pháp mà lợi được dân, cứu được nước, ta hăm hở cầu lấy, việc gì lại không dám mạnh bạo thi hành?  Đoạn, Vương An Thạch đem cái đại cương mình tính sửa đổi pháp độ những gì cho được nước giàu dân mạnh, mỗi khoản tầu bày gãy gọn rõ ràng. Tóm lại, gọi là “Tân pháp 薪法”. Trong những Tân pháp của ông phần nhiều cũng là dựa theo ý tốt của tiên vương, mà thi hành mới mẻ được thích hợp đời nay.

 Thần tông ngồi nghe đến đâu, gật gù tán thưởng đến đó. Nhất là chính nhà vua vốn sẵn lòng tự cường, nhưng còn lo nghĩ băn khoăn về nỗi tài dụng bất túc, lại sợ mang tiếng quốc gia tranh lợi với dân, thì nay được họ Vương giãi bày một cách nghe đúng lẽ phải.

Vương theo thiên tính, mỗi khi bàn cãi về việc nước, thì nói mạnh dạn tự nhiên, cốt lấy thẳng lí, dù ở trước mặt vua chúa cũng thế:

– Tâu bệ hạ, những người chấp chính ở đời nay, động làm động nói là giở phép tắc của tiên vương mà kì thật họ hiểu lầm hay không biết cái ý chính của tiên vương là thế nào? Ngày xưa, nhà Chu đặt quan Tuyền phủ[1], biến thông hàng hóa của cải trong thiên hạ là việc rất hay. Về sau, chỉ thấy Tang Hoằng Dương với Lưu Yến hơi biết làm hợp ý đó. Học giả chẳng rõ cái ý của phép tắc tiên vương lại bảo ông vua chẳng nên tranh đua mối lợi với dân, thật là sai lầm vô kể. Nay muốn lí tài, ta phải dùng phép Tuyền phủ mà sửa sang lại cho hợp thời. Quốc gia tìm cách sinh lợi cho dân, rồi lấy lợi ở dân mà làm việc nước, ấy là chính sách công bằng lưỡng lợi nên làm!

Thần tống gật đầu khen mãi:

– Phải lắm!… Nhà người nói ta nghe phải lắm.

– Bệ hạ cho là phải mà có quyết ý làm chăng? Vương trình trọng hỏi lại, dằn từng tiếng.

Thần tông trả lời nhất định.

– Việc có ích lợi cho nhà nước, ta còn mong đợi gì hơn mà không quyết ý! Chẳng những ta quyết ý biến pháp mà thôi, lại quyết ý phó thác việc nước cho nhà người nữa.

Nghĩa là vua định dùng Vương An Thạch làm tể tướng. Vương đứng dậy vòng tay, nói:

– Bệ hạ có lòng tin cậy phó thác, thần đâu dám chối từ dù tài đức kém hèn cũng xin cố gắng với quốc gia, để báo ơn tri ngộ trong muôn một.

Như ta đã biết thời ngôi thứ họ Vương ở triều đình bất quá một vị đường quan mới ngoài bốn mươi tuổi, chưa phải là bậc đại thần các lão, hầu được dự bàn quốc chính. Thế mà Thần tông phá lệ, vời hỏi đại kế quốc gia, lại muốn đem đại quyền trao cho, thật là một cuộc tri ngộ hiếm hoi, không phải sĩ phu nào cũng có. Cố nhiên, nhà vua có biết rõ tài năng mới được ưu đãi như thế.

Vả lại, chính Thần tông cũng là ông vua thông minh, hiểu thời thế, sốt sắng cứu quốc, cho nên gặp Vương An Thạch bàn chuyện duy tân phú cường thì tâm đầu ý hiệp, hăm hở tán thành trọng dụng ngay. Nếu phải ông vua dung ngu thì tài chính trị của họ Vương cũng đến mai một.

 Tuy thế, họ Vương sáng trí, nhận biết Thần tông còn có vẻ ngần ngại đôi chút, chưa thật kiên quyết. Dùng tài sữa trị và việc quan hệ lớn lao, nếu ông vua còn có mảy may ngần ngại, ý không quyết, dùng không chuyên, thì tất bại sự. Ông rào đón trước:

– Về việc giao phó quốc chính cho thần, nhất là về việc biến pháp, dám chắc bệ hạ mười phần hãy còn do dự một vài, chưa thật kiên quyết thì phải.

– Không! Quả nhân đã quyết lắm rồi mà! Thần tông trả lời chắc nịch, nhưng trong thanh âm thần sắc vẫn có chút gượng gạo kín đáo, không lọt qua được trí sáng nhận xét của Vương.

– Thưa không! Thần nhất định rằng bệ hạ hãy còn phân vân nghi ngại.

– Phải, ta chịu có thế, Thần tông mỉm cười thú nhận. Nhưng tại sao nhà ngươi biết?

– Thần xem ý thì biết. Vương đáp: Bệ hạ còn hơi nghi ngại, chẳng biết cuộc biến pháp có được thành công trọn vẹn ngay không?

– Quả thế, nhà người đoán trúng vào chỗ ta đang thầm nghĩ trong trí.

Chỉ còn một đám mây ngờ cỏn con như thế, Vương thổi nhẹ một hơi lí thuyết, tự khắc phá tan ngay!

– Tâu bệ hạ, ngày xưa vua Nghiêu sai quần thần lựa chọn tiến cử một người để giao phó công việc trị thủy. Ban đầu người tiến ông Cổn, thành ra chẳng khỏi bại sự, về sau tiến ông Vũ mới thấy thành công. Ngày nay, người ta quen tính nhân tuần cẩu thả đã lâu đời, sĩ phu phần nhiều chẳng tưởng gì đến quốc sự, chỉ giữ riết thói cũ, hùa theo số đông, lấy thế làm hay. Nhất đán thần vâng mệnh làm việc biến pháp, ban đầu hoặc sai khiến không đúng người, hoặc kẻ thừa hành bỡ ngỡ làm sai hiệu lệnh, thế nào cũng có một đôi việc lỡ lầm mà hỏng, chẳng sao tránh được! Vậy ta chỉ nên kể điều lợi hại nhiều ít mà cứ việc mạnh bạo làm tới, ai bàn nói gì mặc kệ, ta chớ bị chúng luận làm cho chán nản, nghi ngờ, một mực thành tâm quyết ý mà làm, tự nhiên lâu dần được thấy thành hiệu… Thần xin bệ hạ vì xã tắc bền lòng quyết chí tin cậy vào công cuộc biến pháp mới được, không thế thì thần không dám phụng mệnh.

 Thần tông chưa đáp ra sao, Vương đã nói tiếp:

– Việc đời, bất cứ lớn nhỏ, nếu không kiên tâm làm tới, cố vượt cả mọi nỗi do dự, khó khăn, thì việc chưa bắt tay vào làm đã thấy có cái mầm thất bại nảy ra trước rồi.

Mấy lời thành thực của Vương có cái sức mạnh, khiến trong tâm não nhà vua còn dính lấy một chút hoài nghi bất định nào, đều xua đuổi sạch sẽ, chỉ còn lại tinh thần rất mực kiên quyết.

 – Nhà người nói chí phải, làm ta vững lòng bền chí thêm. Ta nhất định dùng nhà người làm tể tướng, thực hành biến pháp, không còn chần chờ thay đổi gì nữa.

Sau cuộc đình đối đi ra, Vương An Thạch nghiễm nhiên trở nên Tướng quốc, mặc dầu tuổi chưa đến bậc và quan giai còn ở dưới nhiều người.

Năm ấy là Hi Ninh nguyên niên (1068), triều Tống Thần tông, Vương mới 48 tuổi.

Các cụ triều thần thủ cựu xôn xao lạ thường, bàn nhau phá đám. Lúc bấy giờ trong triều ngoài quận không thiếu gì bậc lão thần thạc vọng (danh vọng to lớn), chẳng những gánh tuổi đã nặng mà ngôi quan cũng cao hơn; nếu nhà vua định chọn tể tướng, thì phải chọn một cụ trong đám các cụ ấy mới phải, đâu đã đến phần Vương An Thạch?

Trước mắt họ, anh chàng danh sĩ đất Lâm Xuyên dám khua ba tấc lưỡi, thuyết nhà vua mà vớ lấy quả ấn tướng quốc dễ dàng như thò tay vào túi, đã là một chuyện không thể dung thứ được rồi. Lại còn hiếp kì lập dị, lăm le vẽ vời tân pháp, bỏ cả lề thói tổ tiên, làm rối thiên hạ, thì thật quá quắt, càng không thể nào dung thứ được!

Cố nhiên, ta phải nhìn nhận làn sóng bất bình này phát động bởi công tâm, chứ không phải vì tự ý.

Nhiều người thấy ngày giờ còn kịp, rủ nhau can vua may ra trừ được mối hại còn ở trong trứng.  Trước hết Đường Giới dâng sớ nói Vương An Thạch là người bụng dạ hẹp hòi, tuy rằng hiếu học, nhưng quá nệ cổ, mà không thấu rõ tình thế đời nay; nếu dùng làm tướng quốc, tất là có hại. Kết luận, Đường Giới nói ví bằng nhà vua muốn chọn một vị hiền tướng thì lấy Lữ Công Trứ, Tư Mã Quang hay Hàn Duy kia mới là xứng đáng.

Thần tông không nghe, cứ trao đại quyền cho Vương An Thạch.

Sử chép sau hôm họ Vương nhận chức Tể tướng rồi, sĩ phu cho là vua dùng phải người, duy có Lữ Hối khăng khăng phản đối, nhất định vào triều can gián nữa.

Giữa đường gặp Tư Mã Quang. Hai người cùng đi. Quang thấy Hối cầm sớ trong tay, liền rỉ tai hỏi nhỏ:

– Hôm nay ông tâu việc gì thế?

– Thì cũng chuyện Vương An Thạch đây mà! Lữ Hối trả lời:

– Quái! Người ta đã bảo thế là đắc nhân rồi, ông còn muốn can ngăn nữa ư? Quang ngạc nhiên hỏi:

– Chết nỗi! Đến nhà Quận Thực (tên tự của Tư Mã Quang) mà cũng thở ra cái giọng ấy à? An Thạch tuy có đại danh ở đời, nhưng con người ấy thiên lệch, cả tin, ưa nịnh; nghe lời nói thì hay, mà đem ra dùng thì hại. Làm khổ thương sinh thiên hạ tất là hắn ta!

 Liền đó, Lữ Hối vào chầu, hết sức can gián, nhưng Thần tông cũng không nghe, lại đẩy Hối ra trấn Đặng Châu.

Hai việc ấy chứng tỏ Thần tông cả quyết dùng Vương An Thạch biến pháp vậy.

Chú thích

[1] Tuyền phủ 泉府: Một công chức thuộc về ngạch địa quan ở đời nhà Chu, chuyên việc trông nom đánh thuế chợ búa và làm cho các hàng hóa vật sản được lưu thông các nơi, không bị mất giá hay phải đình trệ đọng lại một chỗ. Ví dụ dân có hóa vật nào không tiêu thụ được ở địa phương này thì quan Tuyền phủ xem xét mách bảo địa phương khác cần dùng, cho người có hàng biết chỗ mà bán được giá, không bị ế ẩm, thiệt thòi. Chức vụ quan Tuyền phủ đời bấy giờ có chỗ gần giống như Thương hội hay Phòng Thương mãi (Chambre de Commerce) ngày nay vậy.

Nguồn: Đào Trinh Nhất, Vương An Thạch, Xuất bản Tân Việt, 1960.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.