Đóng cửa dạy chồng

Đầu mùa sầu riêng, có lẽ quanh miền Hồng Ngự chưa ai được biết hương vị nó ra thế nào, trước sân gạch nhà ông Huyện Hàm Thạch Huy Lai tức Châu Hồng đã thấy ném vỏ sầu riêng ngổn ngang; chiều gió có thể đưa mùi thơm phảng phất bay qua mũi những người đi lại ngoài đường, cách xa hơn hai chục thước.

Đào Trinh Nhất

Một nhà trồng bắp (lúa ngô) và buôn bắp phát đạt nhất vùng có khác, mùa nào thức ấy, họ cúng vái thần khẩu một cách chịu khó cầu kì, và chiều chuộng con tì con vị của họ đáo để, không ngại gì những sự tốn kém xa xôi.

dạy chồng

Nhà ông Châu Hồng ở tít trong đồng ruộng mênh mông, gọi là đường lối giao thông chỉ có những ngòi với rạch. Người ta đi lại đã có đò dọc tàu con, nhưng ông giàu có lớn, ông sắm riêng một chiếc ca nô chạy bằng máy dầu xăng, cũng như trên bộ có xe hơi nhà vậy. Mỗi năm đến mùa sầu riêng, muốn được thưởng thức hương vị của thứ giai quả ấy sớm hơn hết thảy mọi người quanh miền, ông Châu Hồng sai người đi Kampot hay lên Nam Vang mua về, có phần thuận tiện nhanh chóng hơn, vì tỉnh Châu Đốc tiếp giáp đất xứ Cao Miên, nơi sản xuất sầu riêng không khác gì đất Bắc ta sản mít…

Song, người sành ăn và kén chọn như ông chê sầu riêng Nam Vang không thơm tho ngon lành như sầu riêng ở Lái Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một. Đầu mùa mới có, người ta bán đồng rưỡi hay hai đồng bạc một kí lô. Một quả trung bình độ ba kí lô, trị giá sáu đồng bạc, mà bên trong chỉ có độ dăm múi bằng quả chuối tiêu. Bởi vậy, những hạng giàu có như ông mới dám ăn sầu riêng đầu mùa, nhất là, cho người lên tận Sài Gòn mua hàng sọt đem về, sao được vừa chín thì ăn mới ngon, đừng sớm quá cũng đừng muộn quá. Thành ra của một đồng, công một nén, ông ăn sầu riêng gần như các vua ta thuở xưa ăn nhãn tiến Hưng Yên hay mía tiến Thanh Hóa.

Tuy vậy, mùa này người ta thấy gia nhân ông Châu Hồng đi Sài Gòn chở về ba bốn sọt sầu riêng, nghĩa là gấp hai mọi năm. Chẳng những ông nghiện nó, ăn tươi no chán, còn bắt chước người Thái Lan thổi xôi sầu riêng, hoặc làm mứt để dành mùa này qua mùa khác, người ta nói năm nay ông cao hứng, mua nhiều về làm quà cho bà con, vì ông có một chuyện khoái lạc trong tinh thần. Chắc hẳn sự vui mừng tháng trước đã gả chồng cho cô con gái lớn kết duyên với một anh chàng nào đó hình như danh giá lắm.

Chiều hôm qua, hai vợ chồng tân hôn dắt nhau lên Châu Đốc để hôm sau đi Sài Gòn, theo lời chàng rể, tính sắp đặt mở ra một xưởng chế tạo nước hoa, vì chàng là chân kĩ sư hóa học.

Có được chàng giai tế như thế, ông bà Châu Hồng vui vẻ vô hạn. Ông hứa cấp vốn cho mà mở mang công nghệ, dù cần dùng mấy chục vạn cũng có.

Sau hôm vợ chồng trẻ đưa nhau đi rồi, hai ông bà chiếu theo lệ quen từ khi bắt đầu mua sầu riêng, cứ đến bốn năm giờ chiều lại bổ một vài quả ăn chơi và bàn định cái chương trình xây đắp tương lai thật rực rỡ cho con gái và chàng rể.

– Ba con Minh Cầm kì cục quá! Bà Châu Hồng nói. Sao không giữ vợ chồng nó ở nhà chơi ít lâu hãy đi. Mình có một nó là con, nhà lại dư tiền bạc sung sướng, vội gì đi lo làm ăn ở đâu cho cực thân?

– Ê! Má nó quê mùa không biết đó thôi, ông cười và đáp. Xã hội của thằng Hai (tức chồng Minh Cầm) và chỗ thích hợp cho nó vẫy vùng làm nên quan sang chức lớn, là ở Sài Gòn kia, đâu phải ở xó đồng ruộng mình đây. Phải để chúng nó đi kinh doanh công kia việc nọ với người ta. Thằng Hai có bằng cấp Hóa học kĩ sư ở xã hội mình cũng là bực quan lớn, người ta gọi là quan bác vật, mà nó có biết không?

– Thế ư?… Nhưng không biết nó tính làm việc chi ở Sài Gòn?

– Đã bảo nó tính mở một xưởng chế tạo nước hoa, để cạnh tranh với hàng ngoại quốc! Ông Châu Hồng nói câu ấy với tất cả vẻ đắc ý ở từng nếp da thớ thịt trên mặt.

– Hôm qua mình đưa cho chúng nó có hai nghìn đồng bạc mà đủ làm công việc mới nói đó à? Bà vợ hỏi lại một cách thực thà.

– Nhà quê! Công việc ấy sẽ bỏ vốn ra hàng chục vạn cũng còn là ít. Mình cho vợ chồng nó hai ngàn đồng, chỉ để thuê nhà, mua sắm nhiều ít đồ đạc, rồi một vài tuần lễ thu xếp nơi ăn chốn ở xong, hai đứa con trở về đây, bấy giờ mới cần đến số tiền lớn để tổ chức công việc.

Ta nên nhận thấy ông huyện Hàm Thạch Huy Lai thường dùng những tiếng “quê mùa” và “nhà quê” mỉa vợ, để chỉ tỏ ra mình khôn ngoan thạo đời hơn. Trong gia đình, ông nắm chuyên chế, bà vợ chỉ biết tòng phục, vâng lệnh gả chồng cho Minh Cầm, cũng một mình ông định, tuy bà có phân trần lợi hại nhưng ông không nghe. Bà thật là một kiểu phụ nữ chất phác ở chốn nông trang. Quanh năm chỉ sống ở đồng ruộng, từ hồi nào đến nay ngót sáu chục tuổi, chỉ lên tỉnh thành Châu Đốc đâu một hai lần, còn Sài Gòn, Chợ Lớn phồn hoa náo nhiệt thế nào bà chưa trông thấy; đến đường đi xa gần, bà cũng chẳng biết.

– Giờ này vợ chồng nó đến đâu rồi? Bà hỏi. Chẳng biết đi đường có sự trắc trở gì không, tôi cứ thấy trong dạ bứt rứt làm sao ấy!

– Bà khéo lo những chuyện vớ vẩn! Đời nay đường sá đi lại thông đồng, xe tàu chạy như bươm bướm suốt ngày đêm, có việc gì mà trắc trở. Kìa đồng hồ đã gõ 5 giờ rưỡi, lúc này chắc hai đứa đã đến Sài Gòn rồi.

Hai quả sầu riêng còn trơ vỏ lại, câu chuyện gia đình nhi nữ vẫn không kém vẻ nồng nàn, bỗng dưng ông bà Châu Hồng cùng biến sắc mặt. Hai cặp mắt cùng trông ra ngoài ngõ một cảnh sửng sốt kinh hoàng, hai trái tim già cùng đập một điệu hồi hộp. Một sự lạ khiến cho hai người cùng tái mặt hoảng hồn. Rồi không ước hẹn, cả hai đồng thời cùng thốt ra một câu đầy vẻ lo ngại:

– Trời ơi! Sao con Minh Cầm trở về mà hình dung tiều tụy, nước mắt chan hòa thế kia?

Quả thật Minh Cầm trở về. Nàng vừa mới từ giã cha mẹ, đi theo chồng buổi chiều hôm qua.

Trong khi cha mẹ ở nhà tính toán đường đất ngày giờ, yên trí rằng vợ chồng nàng đã tới Sài Gòn bình yên, tự dưng chiều nay thấy nàng lù lù trở về ngoài ngõ. Mà trở về trơ trọi một mình, đầu bù tóc rối, chiếc khăn trùm gần tuột ra phía sau, mặt mày mất cả sinh sắc, mới bước chân vào khỏi trong cổng đã òa lên khóc, cha mẹ nào ở trong trường hợp, thấy cảnh tượng ấy, cũng phải giật mình hết vía, biết chắc có một sự biến cố phi thường đã xảy ra.

Bà mẹ tất tả chạy ra ngoài sân ôm lấy Minh Cầm, trong lúc ông bố đứng run ở trên thềm hỏi săn hỏi đón:

– Sao con trở về có một mình, thế còn thằng Hai đâu?

– Nhà con đi mất đâu rồi không biết, Ba má ạ! Minh Cầm vừa mếu vừa đáp.

Không có bút nào tả hết được vẻ mặt kinh quái của hai ông bà Châu Hồng lúc này.

…, trái tim Minh Cầm bị khích động quá, đang phồng to lên, phải để nàng khóc một chặp, cho ngớt trận bão đau khổ trong lòng, rồi mới hỏi chuyện được. Những giây phút ấy thường dài như một thế kỉ.

Nàng gục mặt trên bàn khóc âm, khóc thầm, khóc nức, khóc nở; bà mẹ đứng bên vuốt ve yên ủi, làm như khi con bà còn đang thời kì bú mớm vậy. Một lát nàng ngẩng mặt lên, nhìn cha mẹ bằng cặp mắt ngơ ngác, rồi thở dài và nói:

– Con tỉnh hay là mộng thế này?

– Việc rủi ro xảy ra thế nào, con nói cho cha nghe! Ông cụ giục giã con, hình như ông yên trí con rể đã bị xe ô tô cán chết ở đâu giữa đường.

– Thưa ba, con đã nói nhà con đi đâu mất không biết, nàng đáp.

– Ủa! Hai vợ chồng cùng đi với nhau, giữa đường chồng đi đâu mất mà con không biết là nghĩa thế nào? Đời nay là đời văn minh khoa học, chứ phải như thời đại Phong thần Tây du hay sao mà bảo người ta tàng hình độn thổ mình không trông thấy.

– Thế mà cũng gần đâu vào chỗ ấy, ba ạ! Thật là một việc kì quái, đến giờ con vẫn còn bàng hoàng không hiểu. Để con nói hết cho ba má nghe.

– Ừ con nói đi! Bà mẹ đưa khăn ướt cho nàng lau mặt và giục con kể chuyện.

Minh Cầm vắt khăn mặt trên thành ghế, rồi thong thả nói:

– Buổi tối hôm qua chúng con đến Châu Đốc, ăn cơm tại nhà bác phán Vinh, rồi bốn giờ khuya ra đón xe ca Nghĩa Lợi để lên Sài Gòn. Vào khoảng chín mười giờ sáng nay, xe đến bến đò Mĩ Thuận. Lúc ấy phà máy đã ra gần giữa sông để sang bờ bên kia, thành ra hành khách phải vào trong các hàng quán ngồi đợi. Bến này, thường khi xe cộ phải chờ đợi nửa tiếng đồng hồ mới được qua sông. Con và anh Hai vào ngồi trong quán, uống nước dừa giải khát. Vừa uống độ nửa tô nước dừa, hình như anh Hai đưa mắt ra ngoài, trông thấy sự gì không biết, bỗng anh nhăn mặt rùng mình và nói nhỏ với con: “Mình ngồi đây, để tôi chạy ra bờ sông một lát nghe, tôi đau bụng quá!” Thế rồi anh chạy đi như gió, con không kịp hỏi lại, chỉ trông theo hút, thấy anh chạy ra bờ sông, rẽ sang tay phải, phía trên bến đò chừng hai chục thước. Con yên trí là anh đau bụng.

Chờ anh Hai trở lại, con đã nóng sốt ruột. Một chốc phà máy đã sang, con đi tìm đi gọi, chẳng thấy bóng dáng anh đâu cả. Con chạy ra tới chỗ bờ sông, đồ chừng khi nãy anh đã tới đó, chỉ thấy gò đống và cỏ hoang, còn người thì tuyệt vô tung tích. Lúc bấy giờ con như điên cuồng, thôi thì chạy ngược chạy xuôi, kêu gọi rầm rĩ, nhưng chẳng nghe tiếng thưa nào khác hơn là vang bóng tiếng mình dội lại. Hành khách cả xe cùng cảm động hoảng hốt giùm con. Phà máy người ta chịu khó đợi thêm đến mười phút. Sau con phải lấy va li trên xe ca xuống, đành ở lại Mĩ Thuận để tìm cho được anh Hai, sẽ đi xe khác…

Minh Cầm kể chuyện đến đây, ông Châu Hồng vẫn ngồi nghe lặng lẽ, không động thanh sắc, còn bà thì sóng lệ dâng lên đầy hai hố mắt, mếu máo và nói:

– Hay là nó trượt chân ngã xuống sông mất rồi.

– Không phải, má ơi! Minh Cầm đáp. Không có thể nào ngã xuống sông mà không ai biết không ai trông thấy. Vì chỗ đó rải rác có hơn chục chiếc thuyền neo sát bên bờ, họ đang câu cá hoặc chuyển vận hàng hóa lên xuống, đông đặc rộn ràng, chẳng lẽ nào một người ngã xuống sông mà tuyệt nhiên mắt họ không thấy, tai họ không nghe. Ban đầu con cũng nghĩ đến tai nạn rủi ro, nhưng mọi người trên bến dưới thuyền đều cho là sự vô lí; chính con suy xét sự tình cũng tự biết là vô lí thật. Có người nói: “Hay là thầy Hai nhà cô có nhân tình hẹn hò đâu đây rồi họ đưa nhau đi rồi?” Con nghĩ càng vô lí hơn, nhất là anh Hai không phải người thế; vả lại quãng này làng xóm cách xa, ví dụ có một anh đàn ông với một chị đàn bà nào đưa nhau đi tắt cánh đồng vào làng xóm, cũng không làm sao che nổi cặp mắt hiếu kì của thiên hạ.

Tuy vậy, từ lúc ấy đến hai giờ chiều, con vẫn hết sức tìm kiếm: thuê người lặn mò dưới sông, lục lạo các gò đống bờ bãi tứ phía, chung quanh đến hàng cây số, lại vào mấy xóm làng phụ cận dò hỏi, không tìm ra một dấu tích gì cả.

Con gào khóc hơn con mẹ hóa điên.

Sau bốn giờ đồng hồ, cả con với bao nhiêu người ra công tìm kiếm cũng đều vô ích, con tính chỉ còn có nước trở về nhà để hỏi ý kiến ba má nghĩ xem một việc mất người lạ lùng như thế, xử trí cách nào cho phải? Có cần trình báo quan làng mở cuộc điều tra hay không? Bởi vậy, sẵn dịp có một chiếc xe lô ca xông (location) về qua Mĩ Thuận lúc non 5, 6 giờ chiều, họ đòi giá bao nhiêu con trả y vậy để mở hết tốc lực, cho kịp về đây trước lúc trời tối.

– Việc quái gở này phải trình báo mới được, con ạ! Cũng vẫn bà mẹ nói, trong khi ông cụ chỉ ngồi trầm mặc.

– Vâng, thì trình báo; Minh Cầm nói. Trình báo mà vạn nhất chàng bị rủi ro ngã sông chết đuối thật, chẳng nói làm gì, nhưng nếu không phải thế, mà vỡ lỡ ra chuyện chàng lừa gạt con đi theo nhân tình, như thiên hạ ở Mĩ Thuận đã thiết tưởng kia, thì xấu chàng hổ ai, lại mang tiếng cho cha mẹ, nên con ngần ngại không muốn.

Việc còn kì quái hơn nữa, là khi con bước lên xe lô ca xông, sửa soạn mở máy, thì có một người đàn bà chừng bốn mươi tuổi, y phục nửa tỉnh nửa quê, mon men đến gần, nói nhỏ bên tai con thế này: “Thầy Hai của cô, chắc có người mời đi chơi đâu ít ngày rồi về, không mất biệt được mà lo…”

– Ai mời đi đâu mà kì cục bất nhân như thế? Bà mẹ nàng phát gắt lên.

– Con mụ ấy có nói cả tên người nào mời, nhưng con quên lãng đi mất… Hình như cái tên là… là… Tín.

– Tên người ấy là Tín à? Nãy giờ ông Châu Hồng mới điểm vào một câu hỏi.

– Thôi, con nhớ ra rồi, ba ạ!… Tên là Đơn Hùng Tín.

Ba tiếng ấy có sức mạnh như sét đánh dưới chỗ ngồi, làm cho ông cụ phải chồm dậy trừng mắt nhìn con:

– Trời ơi! Đơn Hùng Tín!… Thôi, thế thì ta biết rồi.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.