Dòng sông miền Thượng, mi đang chảy đi đâu vậy?!

K’Nhal cùng đứa con khiêng chiếc xuồng lên khi không thể bơi tiếp. Anh và cậu con không có phép màu để ôm chiếc xuồng bay qua cái đập khổng lồ kia. Cái đập thủy điện đã ngăn dòng sông mẹ Dạ Dờng lại, kể từ ngày Thủy điện Đồng Nai 3 hình thành vào năm  năm trước. Một cái đập thôi nhưng đã chia cách thế giới tự nhiên trên một dòng sông và làm khác đi thế giới ấy…

Nguyễn Hàng Tình

K’Nhal bảo xưa anh cứ thế mà thả xuôi đánh cá cho đến khi “no” cá, chán chê thì nghỉ; rồi chèo ngược về hoặc cắm đại xuồng ở bến rừng – sông nào đó mà về. Nay chỉ chờ trời mưa nhiều ngày, có bão lũ, thủy điện xả nước, thì mới nghĩ đến việc bắt con cá con tôm dưới dòng sông mẹ. Tức là bắt cá ở đoạn sông xưa bỗng một ngày đọng nước chứ không phải nguồn chảy thiên nhiên hàng ngày từ núi rừng. Sông hết chảy thì hồ đây đó cũng không còn nước. K’Nhal tâm tư là anh nhớ sông, nhớ nước, nhớ cảm giác bắt con cá, thèm ăn con cá nước ngọt mà đi bắt, chứ nhiều người ở bon B’tung, xã Dak Plao, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông của anh đã mòn mỏi, không buồn đi bắt con cá nữa. Cá trên dòng sông thiên nhiên là thứ “phúc lợi” của trời, muôn dân bình đẳng giăng câu, thả lưới; khi cần ăn con người tự do đi bắt. Anh kể  bà bon (làng) Mạ giờ quen dần bán cái bắp, cái cà phê, điều để đi mua con cá biển, cá hấp mà ăn, người ta đưa từ xứ biển Bình Thuận lên. Cá sông, cá nước ngọt nó có hương nồng của núi rừng, mùi tanh của khe đá, mùi của đất bazan…        

Dòng sông Krong Nô(nơi giáp Dak Lak với Lâm Đồng).

Nghe anh nói mà lòng tôi chùng xuống. Là kẻ  rong chơi trời đày đi qua nhiều sông núi, tôi nhìn sông phiêu bồng, mơ mộng, còn K’Nhal nhìn sông bằng chiều của kẻ sống và thở, “trao đổi chất”  với nó.  Dòng sông đồng bằng chảy hết đất liền là hết… sông, biệt xứ, hòa vào biển. Nhưng sông miền Thượng thì hình như kỳ quái lắm…

“Kẻ” đưa tin rừng già

K’Nhal ngồi đấy, xả hơi với chút cá cá ít ỏi bắt được, sau khi đưa thuyền lên bờ để chờ xe công nông đến chở nó đặng đi tìm khúc sông có nước khác. Theo Nhal, sông là mạch máu của núi rừng, của miền xứ thượng quê anh. Trong lòng anh, sông, cuộc đời nó, vẫn quẩn quanh cao nguyên này. Cảm  giác “sông không ra khỏi xứ”, bởi nó bắt đầu từ những mạch nước nhỏ nhất trên núi, trong rừng già lê thê. Cứ lê thê miết như thế cho đến khi gom đủ suối để  thành sông. Trong dân gian miền Thượng ngày nào họ không biết dòng sông của mình sẽ tới đâu, và “nói” lời tạm biệt với dòng sông là không thể. Chỉ người từng trải, hiểu biết mới biết nó chảy đi đâu đó thôi về dưới kia, chỗ thấp hơn, đến Đại dương, mà “dưới kia” hay “Đại dương” là chốn xa xôi hư ảo,  bởi đặc thù cảm thức của cư dân nền “văn minh thảo mộc” cho họ không cần biết đến điều quá rõ ràng đó, vì cũng tại cả kiếp người mấy ai đi tới biển. Họ chỉ biết và cần gắn bó với  núi rừng.

*

Nhal rằng nhìn dòng nước của sông là biết quanh đó rừng già hay rừng thưa, và những loài cá gì thường sinh sống. Sông chảy từ rừng già ra, nước trong, xanh thẳm, và lạnh. Sông chảy từ rừng thưa xuống thì nước đục. Sông chảy từ rẫy nương xuống thì nước đục hơn nữa. Dòng sông nằm trong  rừng nguyên sinh khi chảy dòng nước không thấy nhiều rác, cây lá, bọt nước… Tốc độ nước chảy cũng cho biết rừng bên trên nhiều hay ít. Sông ở rừng già nước lạnh nhưng coi vậy mà hiền. Sông chảy qua núi đồi không rừng nước rất dữ. Đếm giờ mưa có thể ước được bao giờ con nước nó đến khúc sông nào, chảy qua bến sông kia, dâng lên tới chỗ cái cây nào quen thuộc. Địa hình cao nguyên là vô vàn hình hài, tầng nấc, khúc khuỷu. Nên nước bền bỉ len theo  rừng để đi, lúc thì cuồng nộ hung hãn đâm thủng núi non, va thẳng vào những bãi đá lộ thiên, đổ xuống vực thẳm. Lúc lại chảy dịu dàng, rồi cuồng lên ngay. Kể cả mùa khô, sông cũng không thể êm đềm. Sự  trắc trở của địa hình bắt nó phải khùng điên, cuồng nộ. Nước chảy mà như “nhảy”. Sông biến ảo.

Sông tiến về đến đồng bằng là thứ sông xa nguồn, tách xứ, phẳng băng ra, cởi trần, như “xa lộ” cho nước, chẳng dùng dằng, quyến luyến, vòng vo nữa. Nhưng rắc rối và liêu trai mới là kỳ diệu của một thực thể mang tên “con nước miền thượng”.

Núi non cách trở, có những địa bàn con sông_đường thủy, trở thành giải pháp tối ưu cho việc đi rẫy đi nương, chở bắp, mì, cà phê về, và phân bón, máy tưới… Theo dòng sông, hay xuất hiện những bến thuyền độc mộc là vì thế. Dĩ nhiên trên mỗi bến thuyền ấy là làng, bon, buôn, plei với cư dân sinh trú lâu đời. Người dân bám vào những con sông, men theo dòng nước để sống, để vào rừng kiếm nấm kiếm rau, con chim con thú;đưa nông sản, củi… về trên những dòng sông đó. Người Mạ, K’ho, Ê Đê, M’nông, Jrai, Ba Nah… cũng dựa vào những con sông đó để kiếm thực thực phẩm, hoặc đánh bắt cá nước ngọt về ăn, trao đổi, mang chợ bán. Dòng sông sinh ra bao nghề nuôi sống con người. Con người nương theo dòng sông tự nhiên mà tồn tại. Một cuộc sống chan hòa và thanh bình, nương tựa sông núi. Cũng trên những ghềnh thác tuyệt vỹ thú vị đó, mười lăm năm trước tôi còn gặp những người  làm du lịch sinh thái đẻ ra môn bơi xuồng cao su Cayak theo con nước và lèn đá đại ngàn. Những người sang khai sinh ra môn leo dây xuống vực thẳm ở các dòng thác có những không động  huyền bí trong tiếng nước hoang dã. Những chiếc bè gỗ thả theo sông về xuôi. Rồi cả những người nghĩ ra tour du lịch cưỡi con Voi đi dọc dòng sông miền sơn cước…

Một xứ sở đầy sinh động và đa dạng về thiên nhiên.

Dòng nước người đời

Khi chảy qua mỗi vùng rừng, mỗi tộc người, mỗi (làng) plei, bon, buôn dòng sông mang lấy một cách gọi “nước” khác nhau. Nơi thì gọi sông là Da, nơi gọi là Dak, nơi gọi Lak, nơi gọi Ea, nơi gọi Sê, nơi lại gọi là Ya… Như một con sông Đồng Nai thôi, người phía đỉnh núi Bidoup gọi là Da Nhim, xuống chút nữa là Labá, chút nữa thành Da Sa, chút nữa thành Lien Khang, chút nữa là Da Chamo, chút nữa Da Dơng, chút nữa Da Dâng, chút nữa Da M’rong, chút nữa Da Oai, chút nữa Da Quay, chút nữa là La Nga… Tên gọi cho sông gắn với lai lịch nguồn nước, ký ức cộng đồng. Càng quẩn quanh đại ngàn, chảy miên man là những cái Da, Dak, Dă, Ya, Ea ấy… hóa thần, là thần, chứ không còn là nơi nước chảy.  Người ta cúng sông, bến nước là vì vậy. Dòng sông sinh ra văn hóa cho con người nơi nó đi qua. Mỗi tộc người cúng khác nhau. Chính nó, sông, lại còn phải sống đời sống của những thực thể khác: thác đổ, ghềnh đá, vực sâu, hang động, nước qua thung lũng, thảo nguyên, đồng bằng…   

Mùa mưa lũ sông đồng bằng có dữ dội thì sự dữ dội cũng không thể bằng những đoạn giang ở cao nguyên. Sông đồng bằng, sự dữ dằn chỉ xuất hiện thi thoảng vào mùa mưa bão, nhưng tất cả vẫn được gây men từ thượng nguồn, hứng đựng những gì của thượng nguồn thôi. Kể cả phù sa ở miền hạ lưu, cũng chỉ là sản phẩm tăng thêm của hành trình đào khoét núi non, gặm đất, vận chuyển của nước sông sục sôi nơi miền Thượng. Vì vậy mà sông trong lòng người  sơn nguyên nó huyền bí, sâu kín vô tận so với người đồng bằng.  Có những đoạn sông dài hàng chục cây số chảy êm ái, là thành đất sống, “quê hương”  cho những con thuyền độc mộc đặc trưng của cư dân sơn cước. Thuyền độc mộc, là nguyên cây gỗ lẩy ra từ đại ngàn, đục rỗng giữa, để rồi cùng người lang thang trên sông thượng ngàn. Sông rừng cạn  thì thuyền độc mộc cũng biến mất nói chi đến tượng gỗ nhà mồ, nhà dài.

Chả thấy con thác nào ở những dòng sông đồng bằng, và cũng như chả thấy thủy điện nào xây trên những mặt sông phẳng như lụa ấy. Ở miền cao nguyên, trong một dòng chảy thôi, nhưng lúc dòng nước ấy là  sông, lúc là thác, là ghềnh, là vực. Có những đoạn sông thành thác đẹp ngất trời như Dray Sap, Dambri, Yaly, Pongour, Bobla… Không thể đếm hết thác trên sông miền thượng, vì đó như sự biến tấu của sông ngòi. Có những đoạn sông trải ra chuỗi thác một lúc 6,7, 10,15… tầng nước. Những mảnh lụa trắng tung ra giữa màu xanh thiên nhiên và hùng vĩ trong âm thanh hoang dã. Đấy không là vẻ đẹp quê hương, cảnh thanh bình, hồn vía xứ sở thì là gì.

Và cũng chính địa hình trắc trở, biến chuyển liên tục, dốc đó khiến sông suối cao nguyên trở thành những dòng sông năng lượng. Ở đó, khá nhiều thắng cảnh nằm trong rừng mà vẫn nổi tiếng, được Nhà nước xếp hạng thắng cảnh quốc gia, như Pongour, Trinh Nữ, Dak Tih, Dray Nu, Dray Sáp, Da M’bri… Không để ý đến việc ai đó xếp hạng cho những cảnh sắc của quê xứ, người cao nguyên chỉ biết đó là “môi trường sống”, là những thứ máu thịt. Họ “đọc” suối, sông như ta thuộc “số nhà” ở phố. Đến khe đá còn đặt tên. Sông suối còn là không gian sinh hoạt của người. Không phải bến sông là nơi hò hẹn đâu, mà là cuộc đời, nơi lấy nước uống, nước tưới, tắm giặt, giỡn đùa. Đựng chứa chan ký ức. Cuộc đời con người không thể thiếu sông. Nên hẳn khi một đoạn sông nào đó biến mất, là mất từ bến nước đến con người, tiêu tất cả những giá trị tồn sinh ôm lấy sông.

Tan vỡ

Nhìn người miền núi nâng suối sông, mới thấy sự tôn trọng và chung sống hài hòa với thiên nhiên. Người M’Nông có câu: “ Tu dak manh mih”, nghĩa rằng sông chảy nhờ nguồn nước, suối sông là thứ quí báu nhất trên đời. Sự mang ơn sông suối  ấy với một hạnh phúc chân thật và giản dị: “Brô  tâm  dak  nsit  ko ”_“Xuống sông là phải mang cá về”.

Ngày sông Sê san ở Kon Tum và Gia Lai được chặn lại để làm thủy điện Ia Ly, để ý tôi thấy người Ba Nah, Jrai, Rơ Ngao thẫn thờ. Dù thẫn thờ, nhưng họ vẫn vỗ tay. Chắc họ biết hy sinh khúc ruột, dòng sông, để vì đất nước, cần điện cho phát triển. Ngày thủy điện Đồng Nai 3 chặn dòng sông Đồng Nai, tôi thấy người  Mạ  của K’Nhal ở Đắk Glong của Đắk Nông và người K’ho ở Đinh Trang Hòa(Di Linh, Lâm Đồng) ngơ ngác. Dòng sông Da Dơng bỗng cái đùng biến mất, mà với con người ở tâm thế chân thật hoang sơ tiếc xót là phản xạ rất thiên nhiên. Con sông cùng với núi rừng bao quanh thành hồ mênh mông, mất đường đi, lối về, ruộng vườn lẫn quê quán. Nhưng con hồ tích nước nằm trên núi rừng quê xứ từ đấy đã thuộc Công ty thủy điện kia chứ không còn của tạo hóa, thứ của cải của chung cộng đồng như bao ngàn năm nay nữa. Ngày thủy điện Dak Tih ở ngoại ô Gia Nghĩa(Dak Nông) chặn dòng sông Dak Tik, tôi thấy người M’Nông r’lăm lặng thinh rời xa nó. Ngày thủy điện Plei Krông ngăn sông Pôko (Kon Tum) người Sê Đăng quanh đấy vẫn đi rẫy trồng mì.  Ngày thủy điện Buôn Tua Sar chặn dòng sông Krông Nô, dải đất mênh mông với sự thống trị của cây bắp khi mùa mưa về mà tôi từng dạo bước trên đó và gọi là “Thảo nguyên của người nghèo” chợt nhận ra những làng M’nông Gar lâu đời đó đã đi đâu mất biệt. Ngày thủy điện Sére Pôk 3 và 4 chặn sông Sére Pôk, người Ê Đê, Lào, M’nông ở quanh những cánh rừng khộp Cư Jút và Buôn Đôn vẫn đi trồng cà phê, và cuối buổi chiều ra tắm trên sông Sére Pôk những lần cuối cùng. Ngày thủy điện Dachamo khởi công, dân buôn Da Nghịt ở rừng Lạc Dương bồng bế con đi xem cờ phướn giăng đầy… Người sơn cước hồn hậu, trong sáng, ngơ ngác, hy sinh, chấp nhận. Và có thể, góc nào đó trong lòng, họ cũng mở ra những hy vọng đổi thay, sang giàu cho chính họ, vào một ngày nào đó. Mà hình như nếu không hy sinh họ cũng không có lựa chọn nào khác.  Ngày thủy điện Ia Ly khởi công công trình trên lưu vực sông Sê San ở phía Gia Lai, thì nơi hạ lưu cách đấy chục cây số theo đường chim bay, tôi nhớ Nhà khảo cổ học Nguyễn Khắc Sử hối hả đêm ngày huy động cả dây cày ở Sa Thầy khai quật di chỉ của người tiền sử ở Lung Leng cho kịp trước khi nó chìm trong nước bởi con hồ khổng lồ nuốt hết núi rừng để tích nước cho thủy điện. Những gì đào dưới Lung Leng, giáo sư Sử khẳng định Tây Nguyên là một vùng đất cổ xưa, thời tiền sử đã xuất hiện những cộng đồng người. Nay giáo sư Sử có lên Kon Tum, nhìn xuống hồ Ia Ly thì báu vật Lung Leng kia trở thành một cái gì đó cứ như không có thật, cho dù di vật có còn chất đầy trong bảo tàng Kon Tum.

*

Giờ đi qua sông núi miền thượng, tôi nhận ra những biến thiên, xáo trộn, đổi thay từ trật tự của những con sông, ngọn núi,  cho đến tâm hồn người. Khi một thủy điện ra đời nó xáo tất cả lên, thay, đổi, biến, động. Những con sông, dòng suối tan vỡ đời sông đời suối, nương rẫy trở thành đất thuộc lưu vực của hồ thủy điện, và nhất là những làng người phải di chuyển đi nơi khác. Sông, động mạch của cơ thể quê xứ, vào một ngày bỗng thở hổn hển, đứt đoạn, biệt xứ. Vĩnh biệt những “Bến nước”. Vĩnh biệt những con thuyền xuôi ngược dòng sông. Và vĩnh biệt cả những tour cảm giác mạnh bằng xuồng Cayak…

*

Nhiều năm nay, những bộ phim tư liệu hay và gây ấn tượng lâu bền nhất trên trền hệ thống hình  nước nhà là những bộ phim làm về những dòng sông. Phim tài liệu mà Nhà đài vẫn “ăn” quảng cáo no nê, vừa chiếu phim vừa độn Omo, dầu gội đầu, nước rửa chén, kem đánh răng, bia bọt… Không biết có phải do sông kể quá thật về cuộc đời của nó cùng những gì đôi bờ nó chảy qua, gồ ghề nhất là thân phận con người. Và suốt năm năm qua, chục kỳ họp Quốc hội, ở ngoài Thủ đô, không kỳ nào chuyện sông miền thượng và Thủy điện ở núi rừng xa xôi không được đưa ra nghị trường.

Chưa bao giờ người ta nói về sông nhiều đến vậy, ở đất nước này.       

Gần 300 dự án thủy điện lớn nhỏ đã và sẽ hình thành, thì quê xứ nào còn, rừng núi nào bình yên, sông nào còn hình hài. Theo một người  chuyên  làm thủy điện nói với tôi, lý do để thiên hạ ùn ùn đầu tư vào thủy điện vì điện là thứ không bao giờ sợ ế, và sở hữu những vùng sơn thủy mênh mông khi tạo ra hồ thủy điện là thứ tài sản vô giá, có nhiều cách để sinh lợi từ nó, không thể mua. Có những con sông bị đoạn ra làm mười bốn lần. Mười bốn lần đau trên một cơ thể tự nhiên. Khi sông không còn chảy thuận dòng thì nó chỉ là những đoạn núi non tụ nước, như những ao tù mà K’Nhal đi bắt cá, chứ sao là “Sông” nữa được. Không còn chảy một dòng thì thủy sinh, thủy lâm… ở nơi từng là sông ấy phá vỡ cấu trúc hết rồi. Sông ngòi không còn là sông ngòi. Và mỗi thủy điện ra đời từ  hai ngàn đến mười hai ngàn người phải tách khỏi cội quê, di dời. Có lần, ông Huỳnh Lê Trung, Chuyên gia thuỷ điện  hàng đầu với 30 năm trong nghề  nói với tôi rằng, chính  ông cũng “xót” ” với cách phát triển thủy điện ở VN: không hề có qui hoạch tổng thể môi trường và văn hóa chiến lược cho cả con sông mà chỉ qui hoạch cho từng thủy điện; còn đánh giá tác động môi trường lại do chủ đầu tư thuê tư vấn riêng thực hiện. Ông cũng lạ lẫm vì nguyên tắc để những dòng sông không “chết”, đứt gãy, thế giới người ta buộc làm thuỷ điện bao giờ cũng đặt Nhà máy phát điện ở hai đầu, để đổ nước xuống trở lại hai đầu sông. Nhưng VN thì tất cả vẫn kiểu đổ xuống một đầu, cứ trên đổ xuống thấp như thế, vì tiết kiệm chi phí đầu tư. Doanh nghiệp lợi, chỉ cộng đồng thì chồng chất đau, thiệt.

Tôi biết từ dạo đó, năm 2001, khi làn sóng thủy điện quét qua thì sự đúng nghĩa của con sông đã biệt xứ. Không còn  có thể  cho một con thuyền xuôi dòng được nữa, như K’Nhal bất lực nhìn bậc thang thủy điện trên dòng sông quê. Câu cửa miệng của dân gian: “ Ai về nhắn với  bạn nguồn/ Mít non gửi xuống cá chuồn gửi lên” theo đường sông muôn đời qua, thời nay cũng coi như chấm dứt dùng. Nếu có gửi, giao thương hàng hóa, hãy gửi xe đò, cô bác miền ngược, miền xuôi nhé. Rất nhanh, tiện, mít khỏi héo mà cá khỏi ương. Chỉ có điều… Nhớ sông đứt ruột.

Như cảnh K’Nhal với cá, có anh chàng làm du lịch đi xuồng Cayak tên là Ngô Tuấn Cường một ngày đi thăm lại sông xưa, dòng Da Dâng, đã ngẩn ngơ xót khi những con sông hôm nào giờ đã thành những bãi đá trơ trọi, khát nước, như mắc cạn. Với Ngô Tuấn Cường Đập thủy điện Đại Ninh đã phải làm cái việc lạnh lùng và không cần nỗi niềm hoài hương của người sống bên dưới là giữ nước để phát điện. Và những con thác cho dù đẹp đến mấy thì cũng hết kiếp thác. Những dòng sông lần lượt chết. Chết thật, chứ không phải lâm sàng. Và chết vì thủy điện chứ không phải vì nước thải công nghiệp như sông dưới xuôi.

Ai chẳng biết, vốn ăn đời ở kiếp với sông, bỗng một ngày mất sông, còn người thì di dời đến nơi khác sống và cả làm ăn. Người sơn nguyên thuần khiết, nhạy cảm, dính chặt với con suối, dòng sông; thích nghi với núi lạ, đất khác nào dễ, sự thích nghi phải tính bằng đời người, thế hệ. Con người sống nặng tình với nơi ở, không muốn  xa cảnh vật quen, thì cần nó như dinh dưỡng. Gọi đúng tên, đó là dinh dưỡng tinh thần. Không có quá khứ thì tựa vào cái gì.

Gần đây, cứ ít tuần trôi qua, trên VTV lại xuất hiện một phóng sự kể những làng người bị di dời vì thủy điện không chịu ở nơi được bố trí định mới mà quay về dựng chòi ở quê cũ để ở “chui”(tất nhiên_vì đất đã giao cho dự án!), mở lại rẫy vườn ở mảnh đất con con còn sót, nước ngập không tới. Bà con không ý kiến gì cả, cũng chẳng đòi hỏi, chỉ thấy họ lặng lẽ quay về như thế. Là kẻ ta bà ham chơi, thế mà lần nào xem chuyện không mới đó vẫn quặn lòng.

Như mọi chốn xứ, hình ảnh con sông là vật công bằng cho tất cả cư dân, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, vị trí xã hội, trong cái cuộc tình “con người và dòng sông” chảy qua nơi sinh sống. Tây Nguyên hy sinh cả những điều sâu kín, thiêng liêng nhất của kiếp con người. Như bao người bản địa tôi đã gặp trên hành trình qua nhiều con sông trên Tây Nguyên, K’Nhal tâm sự là thời bây giờ anh không còn đoán định được khi nào nước sẽ dâng cao dù ở những đoạn sông thân thuộc, và anh không còn hiểu được sông nữa, vì dòng nước đã không còn là sản phẩm của tự nhiên nữa. Con người đã tác động, thay đổi toàn bộ cấu trúc tự nhiên của dòng sông. Người M’Nông_một sắc dân lâu đời nhất ở Tây Nguyên có câu: “Duk he ri đa bon tâm dak”_dịch ra tiếng phổ thông là: “ Lỗi của con người đừng quăng xuống dòng sông”. Nhưng với người Kinh, một thời có bài hát nổi tiếng_bài “Sông Dakrông mùa xuân về” mà tôi tin ít người chưa từng nghe, ở đó giai điệu thật hùng tráng và huyền ảo về dòng sông miền thượng: “ Tôi hát cho dòng sông Dakrông luôn chảy xiết/ Tôi hát cho nhà rông đêm ngày luôn đỏ lửa; cho tiếng đàn T’rưng vang đầy dòng suối/ Dakrông ơi, dòng sông xanh thẳm/ Tây Nguyên ơi…”.        Sông chảy về tim tha nhân. Nhưng thiên nhiên đã tan vỡ cả rồi, hào khí sông kia mới đó cũng đã như cơn lũ quét qua. Làm sao đo tính được năng lượng của một dòng sông trong lòng người./.

Nguyễn Hàng Tình

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.