Nha Trang một cõi đi về

“…Có vậy thôi mà mười mấy năm ở Sài Gòn, tôi đi tìm mì quảng Nha Trang như tìm “lá diêu bông”, tìm hoài hổng gặp. Nên quý vị nào tới Nha Trang nhớ thử mì quảng Nha Trang, chớ mấy món đặc sản biển gì đó, xứ biển nào mà không có….”

Minh Lê

Có người bạn thân trách tôi: “Dân Nha Trang mà chưa viết được một bài cho Nha Trang!” Tôi giựt mình, bạn trách đúng hen. Khổ cái đâu có ít bài viết về Nha Trang, tôi “chen chân” vô chỗ nào đây? Thôi, làm “ăn mày dĩ vãng” lần nữa coi sao.

bún sứa

Bún sứa Nha Trang

Nha Trang có nhiều món ăn ngon, đúng rồi, nhưng có gì khác chỗ khác hông ta?  Món đặc sản không tính, nói riêng món bình dân, có lẽ khác nhứt là mì quảng. Cái khác đầu tiên so với bản gốc: sợi mì quảng Nha Trang khô, dai và bản nhỏ như hủ tíu. Thiệt ra Tuy Hòa, Phan Rang, Phan Thiết đều dùng sợi mì quảng giống vậy, nhưng chỉ ở Nha Trang sợi mì quảng luôn có màu vàng ươm bắt mắt. Khác thứ hai: nước lèo mì quảng Nha Trang luôn chan đầy tô, óng ánh dầu điều đo đỏ và ngọt vị xương heo. Còn nhớ hồi bạn tôi rủ đi ăn mì quảng “chính gốc”, tôi ngồi ngẩn ngơ ngó tô mì khô rang với chút nước lèo “lấp ló” giữa các sợi mì. Bạn cười: “Không quen ăn mì Quảng, chỉ quen ăn mì quảng Nha Trang phải không?” Mấy chục năm đầu đời, tôi đã lỡ quen, lỡ yêu mì quảng Nha Trang, nên thà nhận cái danh “thiếu sành điệu” chớ đâu thể quên “mối tình đầu”. Khác thứ ba: nhưn mì quảng Nha Trang có tôm, thịt, giò heo đều luộc hay hầm chớ không xào, còn chả cá có hai loại hấp và chiên. Tuy cùng là xứ biển nhưng thủ phủ các tỉnh lân cận lại ít dùng chả cá mà thiên về gà (Tuy Hòa) hay vịt (Phan Thiết). Mà chính chả cá cùng với tôm thịt luộc làm nên cái vị “tuy nhẹ nhàng mà vẫn đậm đà mùi biển” của mì quảng Nha Trang.

            “Trăm nghe không bằng một thấy”, giờ để tôi tả trực diện tô mì quảng nhem thèm các bạn (gốc Nha Trang) nghen. Mì quảng Nha Trang, thiệt ra, hổng giống mì Quảng chính gốc tí tẹo nào. Khác từ nước dùng, nhưn, bánh, đến cả rau cũng khác. Sợi bánh nhỏ và dai như sợi hủ tíu, có màu vàng tươi. Nước lèo nấu từ xương heo, điểm chút dầu điều, tôm đỏ au, thịt luộc trong veo, một miếng giò heo bóng loáng, cùng vài lát chả cá hình thoi trắng ngà điểm thoáng tiêu đen. Nước phải chan đầy tô mì ăn mới đã, đặng còn và lua với rau ghém (xà lách, rau thơm, bắp chuối) xắt nhỏ. Thử một miếng nước lèo coi vừa ăn chưa, nếu lạt sẽ thêm chút nước mắm nguyên chất dằm ớt đỏ chót cho đúng điệu Nha Trang. Sợi bánh dai dai, tương phản với thịt heo mềm rục, giá và rau giòn giòn. Chả cá phải nhấm nháp kỹ để tận hưởng vị cá ngọt thanh, mặn mà nước mắm, cay nồng của tiêu. Rồi trong miệng lại có tí bùi bùi của đậu phọng, nhai nghe lộp cộp nho nhỏ, chớ không rôm rốp như bánh tráng trong mì Quảng chính gốc. Có vậy thôi mà mười mấy năm ở Sài Gòn, tôi đi tìm mì quảng Nha Trang như tìm “lá diêu bông”, tìm hoài hổng gặp. Nên quý vị nào tới Nha Trang nhớ thử mì quảng Nha Trang, chớ mấy món đặc sản biển gì đó, xứ biển nào mà không có.

            Dù người ta nói “tình yêu đi qua bao tử” nhưng dừng ở đây thì tôi sẽ bị cự là người Nha Trang mà thiếu tình yêu biển. Vậy phải nói một chút về biển. Theo tôi, biển Nha Trang đẹp nhờ hai lý do: núi và phi lao. Bờ biển cong cong hình vòng cung, cát trắng như… đường cát, hai bên đều có núi non xanh tươi bao bọc. Bên trái dãy Cô Tiên như người thiếu nữ nằm xõa tóc, bên phải dãy Cảnh Long như con rồng xanh đang ngủ. Núi không cao, nên không hùng vĩ lấn át biển, mà như đang ôm ấp, vỗ về biển và gió, khiến biển dịu dàng hơn và gió cũng nhẹ nhàng hơn. Núi cũng không quên cho biển “mượn” vài hòn đảo bầu bạn giữa sóng nước mênh mông. Từ trái qua phải có hòn Rùa giống y chang con rùa với một hòn con như cái đầu rùa, Hòn Yến, một dãy dài là Hòn Tre, xa hơn là Hòn Tằm, Hòn Một, Hòn Mun. Nhờ có đảo nhấp nhô vừa đủ nên tuy biển bao la nhưng gần gũi. Nếu ví biển như một cô gái dịu dàng và mạnh mẽ, thì núi là chàng trai bao dung và ấm áp, sẵn lòng che chở và sẵn sàng mở rộng vòng tay cho cô tự do làm điều cô thích. Mối tình giữa biển và núi đẹp thi vị như vậy nên đâu thể thiếu… thơ. Bèn có thơ rằng:

                                                Nha Trang biển rộng núi dài,

                                              Tình sâu như biển, tình sầu ai hay?

            Nếu núi là chàng trai chia ngọt sẻ bùi với biển thì phi lao là người bạn tôn lên vẻ đẹp của biển. Con đường chạy dọc bờ biển được mở vào những năm đầu thế kỷ XX khi người Pháp đến Nha Trang. Bấy giờ đường mang tên Avenue de la Plage (Đại lộ Bãi biển), sau đổi thành Đại lộ Duy Tân, sau này nữa là đường Trần Phú. Nhưng nhiều thế hệ người Nha Trang vẫn quen gọi nó bằng một cái tên giản dị mà thân thuộc “đường biển”. Phi lao trồng dọc đường biển có lẽ từ dạo mở đường, được tạo dáng cây cảnh khi vừa lớn nên thế cành đẹp tự nhiên, gân guốc mạnh mẽ mà vẫn uyển chuyển khi cần. Lá cây thon dài và mảnh, chia thành nhiều đốt trông như những cây kim xanh nối với nhau. Mỗi đốt có thể bứt ra rồi nối lại như thường. Trò chơi ưa thích của lũ học trò chúng tôi thưở ấy là đố nhau đoạn nào đã bị bứt ra. Chúng tôi cũng thường tha thẩn nhặt trái phi lao. Trái nhìn rất ngộ, như một trái thơm khô nhỏ tí xíu màu nâu sẫm, nhẹ mà cứng. Trái mọc thành chùm, bữa nào may mắn hái được một chùm trái phi lao về để trên bàn học là tôi có thể ngắm cả tuần. Nhìn chùm phi lao, tôi tưởng nghe được tiếng gió xôn xao, tiếng sóng rì rầm và ngửi thấy vị mặn của biển. Phi lao còn gọi là tùng dương, một cái tên rất hay, vừa cứng cáp như tùng, vừa thanh thoát như dương. Hơn trăm năm qua, hàng phi lao cổ thụ đã ngăn cát, chắn gió, mang lại màu xanh, bóng mát cho biển Nha Trang. Phi lao quả xứng danh là bạn tâm giao cùng biển.

            Biển Nha Trang đẹp, nên người ca tụng cũng nhiều, nhứt là nhạc sỹ. Nhạc sỹ Minh Kỳ, tên thật Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ, sinh tại Nha Trang, gốc Huế, cháu sáu đời của vua Minh Mạng, viết nhiều bài về Nha Trang trong thập niên 1950. “Nha Trang là miền quê hương cát trắng, quanh năm giao duyên biển trời, đẹp lòng sóng gió reo vui…” Bài hát “Nha Trang” (nhạc Minh Kỳ, lời Hồ Đình Phương) mang âm điệu chân phương, tha thiết và êm đềm như Nha Trang thưở ấy. Nha Trang còn ghi dấu cuộc tình mười năm của nhạc sỹ Phạm Duy với người con gái tên Alice Lệ Lan. Phạm nhạc sỹ viết nhiều bài tặng Alice, từ “Tìm nhau”, “Cho nhau”, “Ngày đó chúng mình” đến “Kiếp nào có yêu nhau”. Năm 1968, Lệ Lan lên xe hoa, nhạc sỹ tiễn người yêu bằng “Nghìn trùng xa cách”: “nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi, còn gì đâu nữa, mà khóc với cười…”. Năm 1969, Phạm Duy về thăm lại Nha Trang và viết “Nha Trang ngày về”: “Nha Trang ngày về, mình tôi trên bãi khuya, tôi đi vào thương nhớ, tôi đi tìm cơn gió, tôi xây lại mộng mơ năm nào…”

            Không chỉ Alice, một bóng hồng Nha Trang khác tên Tôn Nữ Bích Khê từng là nguồn cảm hứng cho nhạc sỹ Trịnh Công Sơn viết “Biển nhớ”. Hai người cùng học một lớp tại trường Sư Phạm Quy Nhơn những năm đầu thập kỷ 1960. Nàng Bích Khê nhỏ nhắn, xinh xắn, hát hay, thường chăm sóc cho cậu bạn ốm tong đeo cặp kính cận dày cộp. Trịnh nhạc sỹ động lòng, nên “lo được, lo mất”, năm học chưa hết mà đã lo tới ngày nàng ra đi, bèn mượn biển… Quy Nhơn để thổ lộ nỗi lòng:

                        “Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về,

                        Triều sương ướt đẫm cơn mê, trời cao níu bước sơn khê.
                        Ngày mai em đi, hồn đá rêu phong rũ buồn,
                        Đèn phố nghe mưa tủi hờn, nghe ngoài trời giăng mây luôn.”  

            Nghe tội dễ sợ, nhưng “tình chỉ đẹp khi còn dang dở”, may quá, nếu tình trọn vẹn, chắc gì nghệ sỹ Trịnh đã có những bài hát đầy day dứt sau này, hay ít nhứt, khi trở về thăm lại Quy Nhơn năm 1999, sẽ không có “Biển nghìn thu ở lại”.

            Nhân nhắc tới nhạc Trịnh, tôi phải tự thú một chuyện: tôi hay phỏng thơ phỏng nhạc, nhưng chưa bao giờ dám phỏng nhạc Trịnh. Lý do: tôi sợ bị người yêu nhạc Trịnh “đánh hội đồng” vì dám đem nhạc Trịnh vô… ẩm thực. Mà nói thiệt, nhiều câu nhạc Trịnh tôi hát ròng rã bao nhiêu năm, nghĩ lại vẫn không chắc mình hiểu ý tác giả. Đâu có sao, chắc tác giả cũng muốn người nghe “tùy cảnh mà ngộ”. Tỷ như tôi đã đi, và về lại Nha Trang nhiều lần, mỗi lần về lại muốn đi, có khi đi rồi lại nhớ, muốn…về. Loanh quanh như vậy bao tháng ngày, nhật nguyệt đều đủ dù trăm năm chưa tới, nhưng một cõi đi về dường như cuối cùng đã định trong lòng. Nên lần này, tôi xin phép trích câu tâm đắc nhứt trong “Một cõi đi về” tặng… Nha Trang:   

                                    “Trong khi ta về lại nhớ ta đi
                                    Đi lên non cao, đi về biển rộng…

                                    Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
                                    Rọi suốt trăm năm một cõi đi về”

            Tái bút: Viết xong bài tôi hí hửng gởi cho bạn “trả nợ”, không dè nhận được ba chữ: “Vẫn còn thiếu!” Tôi cụt hứng, hỏi thiếu gì. Bạn trả lời: “Thiếu hiện tại!” Bạn nói tôi ở nhà quê mà giống như ở trong “tháp ngà”, nên tặng tôi bốn câu “phỏng ca dao” cho tôi “hiểu sự đời”. Bạn còn nói vì nể mặt tôi nên đã đổi một từ khác thành từ “nhau”. Tôi xin chép lại ở đây, để độc giả “rộng đường dư luận”:

                                    Thương nhau mấy núi cũng trèo,

                                Người ta phá núi, để… leo cho dễ dàng.

                                    Yêu nhau chẳng quản lầm than,

                                 Biển nghèo, biển xấu, trơ gan sá gì!

Minh Lê (Suối Tiên 6/2021)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.