Tư lúa mùa và những mùa lúa cổ điển

Mùa gió bấc năm 2009 đã làm sống lại trong tôi những ký ức của tuổi thơ, nhiều kỷ niệm đẹp hiện về trong giấc ngủ và tôi bắt đầu ước mơ về một thửa ruộng lúa mùa của mình….

Lê Quốc Việt

Bài phỏng vấn ông Lê Quốc Việt về lúa mùa – Công Khanh thực hiện

Công Khanh : Tôi đã đọc xong cuốn “Đời sống lúa mùa quê tôi” của Lê Quốc Việt. Cho hỏi từ lúc nào anh có ý định trồng lúa mùa? Tôi nghĩ không biết đúng không, ý định này phải được nuôi sống bằng một ký ức ngồn ngộn về lúa mùa, nên nó có cả một thời gian dài?

tu-lua-mua_tang-sach a-2

Tư Lúa Mùa tặng sách

Lê Quốc Việt : Tuổi ấu thơ tôi sống trọn vẹn trong không gian văn hoá lúa mùa. Vừa sang tuổi thiếu niên, cha mất, tôi làm người lớn trước tuổi, một thời thơ ấu dữ dội. Mọi công việc đồng áng của một nông dân thực thụ tôi đều làm trọn vẹn. Trong bối cảnh phải vừa đi học, vừa đi làm, vừa vui chơi như con nít miệt đồng mới lớn nên tôi có những ấn tượng rất sâu sắc về văn hóa lúa mùa ở quê tôi.

Tốt nghiệp đại học, tôi vẫn làm nông nghiệp nhưng theo một nông pháp hoàn toàn khác. Giai đoạn đầu, việc thâm canh tăng vụ có ý nghĩa tích cực cho nông dân, cho xã hội. Nhưng càng về sau, cách sản xuất này đã biến ruộng đồng thành “giá thể”, gieo hột giống là phải thêm phân, thuốc với ‘liều’ tăng dần, nếu không, sẽ không đạt năng suất, điều đó đồng nghĩa với lợi nhuận của nông dân giảm dần và môi trường đất nói riêng, môi trường sống của người dân nói chung ngày càng suy giảm nghiêm trọng.

Nhận thức này tôi rút ra năm 2008, sau 6 năm làm bí thư ở một xã chuyên về nông nghiệp. Về làm trưởng phòng nông nghiệp huyện tôi trăn trở lắm nhưng chức trưởng phòng chỉ là cái chức “nắc nia”1, chẳng làm được gì nhiều cho nông dân.

Mùa gió bấc năm 2009 đã làm sống lại trong tôi những ký ức của tuổi thơ, nhiều kỷ niệm đẹp hiện về trong giấc ngủ và tôi bắt đầu ước mơ về một thửa ruộng lúa mùa của mình.

Năm 2011, đi tham quan festival lúa gạo Sóc Trăng, nhìn khu vực trưng bày của Viện Nghiên cứu phát triển đồng bằng sông Cửu Long (NCPTĐBSCL), Đại học Cần Thơ, thấy liệt kê những giống lúa mùa ngon cơm, giống chịu phèn, chịu mặn…, có giống tôi biết, có giống hổng biết nhưng chính những thông tin này đã nung nấu thêm ước mơ phục dựng lúa mùa của tôi. Và phải đến năm 2017 tôi mới chính thức xây dựng một không gian văn hoá lúa mùa sau một khoảng thời gian dài dành dụm nguồn lực.

Công Khanh : Lúa mùa anh đang trồng lấy giống từ đâu? Anh có thử giống không hay quyết định chọn giống theo ký ức lúa mùa của mình?

Giống lúa mùa là trở ngại lớn nhứt mà tôi phải giải quyết. Hỏi thăm bạn bè hết các phòng nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, ai cũng nói hổng còn tìm ra. May nhờ bạn bè chỉ chọt rồi nhìn ra Phó Viện NCPTĐB SCL là học cùng khoa nhưng khoá đàn em mình nên tôi mạnh dạn hỏi xin chia sẻ nguồn gen đang bảo tồn trong kho lạnh (âm 8 độ C).

Trước khi đi tìm giống tôi xác định mấy tiêu chí là: giống đó từng có mặt ở địa phương mình (để đảm bảo tính thích nghi), thứ hai là giống đó phải có chất lượng từ khá trở lên (nếu ăn hổng hết còn bán được). Tôi vẫn còn nhớ khá nhiều giống nhưng để chắc ăn, tôi đã tâm sự việc này với nhiều nông dân 70-80 tuổi rồi mới làm văn bản gởi đến Viện xin chia sẻ nguồn gen với tổng số là 5 giống, mỗi giống gần 200 hột (năm 2017). Năm 2018, nhờ người quen, tôi tiếp tục xin được một giống ở Viện KHKT nông nghiệp Miền Nam. Năm 2019, tiếp tục xin chia sẻ thêm hai giống ở Viện NCPTĐB SCL. Năm 2020, liên kết với Trung tâm Phát triển nông thôn (ĐH An Giang) và Viện NCPTĐBSCL triển khai nghiên cứu 2 bộ giống lúa mùa với số lượng hơn 30 giống.

Công Khanh: Những người nghe anh xúi trồng lúa mùa họ có hả dạ như anh không?

Lê Quốc Việt: Năm 2017, một mình tôi trồng để nghiên cứu, để ghi lại những clip tư liệu về quy trình trồng lúa mùa xưa. Năm 2018 vẫn một mình tôi trồng để chuẩn bị về giống và có cơ sở thuyết phục một số người yêu thích lúa mùa.

Năm 2019, có 31 hộ với 36 ha trồng lúa mùa theo tôi. Kết thúc  mùa vụ ai cũng hoan hỉ, có người bán lúa lấy tiền xong đi ra chợ khoe: từ nhỏ tới giờ chưa từng làm ruộng lúa trúng mà bán được giá như năm nay! Thiệt tình, khi thiết kế giá bao tiêu cho họ tôi đã tính phải làm sao cho người nông dân có lời từ bằng đến hơn làm lúa ngắn ngày rồi.

Công Khanh: Tôi thấy đi chung với lúa mùa là một hệ sinh thái đời sống của người nông dân. Trồng lúa với những dụng cụ chuyên nghiệp nhà làm, ắt phải có lò rèn trong khu xóm. Anh có thể kể ra những thứ đó?

Lê Quốc Việt: Cái xóm ở chỗ tôi hồi đó ít nhà lắm, thường các loại nông cụ của nhà nào thì nhà đó tự làm, những bộ phận có liên quan đến sắt thép, nếu ở chợ hổng có bán thì đi lò rèn, mà thường làm ở lò rèn, gặp thợ giỏi và thép tốt (đặc biệt là nhíp xe cũ) thì ngon hơn đồ chợ nhiều. Ví dụ muốn có lưỡi vòng gặt (dụng cụ thu hoạch lúa) thì đi lò rèn Cầu Ván (cách nhà chừng 7 cây số), muốn làm cây dao đi vườn hay cây phảng phát cỏ thì đi lò rèn Gò Đất, cách 6 cây số, làm cây cuốc thì đi lò rèn Minh Lương, cách 2 cây số. Còn lưỡi cày thì thời tôi biết thì người ta chuộng lưỡi cày chét của Bạc Liêu, còn trước đó lò nào làm hay tôi hổng biết.

Có một điều, thường những nông cụ do người Khmer làm thì kiểu cọ hơn, hoa mỹ hơn, người Kinh làm.

Ngoài ra họ còn đi bắt cá, đào hố bẫy cá. Để làm những chuyện đó họ phải tự tay làm những đồ nghề như câu cắm, câu giăng, ống trúm, đèn soi bắt ếch?

Hầu hết các dụng cụ bắt cá người dân nông thôn đều tự làm, những bộ phận nào làm hổng được mới ra chợ mua. Như cây cần câu cắm, người ta đốn tre gai, cắt khúc, chẻ nhỏ, vót cần sau đó ra chợ mua dây và lưỡi câu; cái lọp đặt cá, người ta cũng đốn tre, vót nan rồi đan bằng dây choại đến khi hoàn thành, hổng mua thêm thứ gì; câu giăng thì ra chợ mua dây và lưỡi về tự tóm lấy; ống trúm có thể tự làm hoàn toàn hổng cần ra chợ mua thêm thứ gì; đèn soi ếch (bắt nhái, cắm câu đêm đều được) tự làm một cái lồng bằng ván để chống gió, phía trên đóng bằng tôle (thiếc) để chống cháy rồi để cây đèn cốc vô. Chỉ có những người chuyên nghiệp, tích lũy nhiều mới dám mua cây đèn khí đá để đi soi. 

Công Khanh: Nghe nói ngoài trồng lúa ruộng lúa mùa còn xen canh con tôm càng. Nó làm tôi nhớ câu ca dao: Bữa trưa đói bụng thèm cơm, thấy đùi em vợ như tôm kho tàu. Anh có hay bắt tôm kho tàu ăn không?

Lê Quốc Việt: Ở xứ đồng bằng này, hồi nhỏ, xuống sông mò bắt được tôm càng tự nhiên về ăn là chuyện bình thường. Một bầy trâu lội dưới sông, nước đục ngầu cũng làm tôm nổi đầu, cứ lấy tay không mà vớt. Những miếng ruộng gần sông, đất hơi thấp, nước ròng nước lớn cũng đưa con tôm lên ruộng. Tôm kho tàu là món đứng hàng đầu trong các món tôi hồi nhỏ rất thích.

Bây giờ “Con sông quê hương” của Tế Hanh đâu còn để mà nhớ! Xứ tôi bây giờ hổng còn con sông nào để tự tin bơi lội hết, nên nhiều loài thuỷ sản dần mất đi. Tôm càng xanh giờ hổng nuôi là hổng có ăn, nuôi quãng canh, cho ăn dặm dừa khô, khoai mì còn đỡ, nuôi bằng thức ăn công nghiệp thì hổng còn ngon lành gì!

Lê Quốc Việt – Công Khanh

Chú thích

1 ‘nắc nia’ là phiên âm từ tiếng Khmer ‘neak nghia’, nghĩa là làm ‘đầy tớ’.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.