Chữ nghĩa cũng di cư

Trong bài viết này, người viết lạm bàn về số phận chữ nghĩa người di cư sau 1954 và triển khai rộng ra về một giao lưu văn học, văn hóa, ðịa lý, chính trị trong cuộc Hội Nhập vĩ ðại của lịch sử người Việt.

Nguyễn Văn Lục

Tôi thầm cảm ơn người miền Nam và coi ðây là một cuộc Nam Tiến ðến sau kế sách Thuận Hóa cách đây hơn 500 năm.

Sự cọ sát ðầu tiên giữa hai miền là tiếng nói, chữ viết.

Tiếp xúc ðầu tiên giữa người hai miền là tiếng nói, nhất là giọng nói. Không hiểu nhau là một trở ngại cho cả hai phía. Có những giao tiếp trở thành gượng gạo ngỡ ngàng, người nọ hiểu lầm người kia.

Vietnamese boat people, Hong Kong. 1985
© M.Kobayashi/Exile Images

Có sự không hiểu nhau một phần lớn là do giọng nói khác nhau.

Ngay tại miền Bắc, tiếng nói là thứ phương ngữ thay ðồi từng vùng.

Việc ði lại khó khăn giữa các vùng, không có giao tiếp trao ðổi ðưa đến trở ngại người ðịa phương này nói khác giọng với ðịa phương kia. Vùng Kẻ Noi cách Hà Nội chừng vài cây số mà giọng nói rất khác lạ. Giọng họ líu lo như chim hót. Ngay hiện nay, tôi ở khu vực Montreal nói tiếng Pháp ðã trên 30 năm rồi, vậy mà khi họ nói với nhau, giọng ðịa phương tôi chỉ hiểu lõm bõm.

Đi vào từng vùng ở miền Bắc, có một số phát âm khác nhau, giọng người các tỉnh phía Nam thường nặng hơn giọng người Hà Nội.

  • · Dân Hà Ðông chuyển âm N thành L. Chẳng hạn cái nồi, cái niêu ðọc là cái Lồi, cái Liêu.
  • · Dân Hà Nam ðọc vần Tr thành Ch. Chẳng hạn Giá Trị ðọc thành Giá Chị. Tranh Chấp thành Chanh Chấp. Nhưng có thể ðọc sai mà viết vẫn ðúng.
  • · Dân Ninh Bình trở xuống xuôi như Yên Mô, Phúc Nhạc chuyển dấu ngã thành dấu nặng, hoặc dấu hỏi.. Vũ thành Vủ hoặc Vụ.
  • · Vùng Kim Sơn. Vần Tr thành T, vần L đổi thành N. Con trâu trắng thành con Tâu Tắng. Làm lụng vất vả thành Nàm Nụng vất vả.
  • · Vùng Thanh Hóa. Vần A đổi thành Oô. Tỉ dụ Ba Lòng đọc thành Ba Loong.

Vì thế, lúc bắt ðầu giao tiếp, nhiều người dân miền Nam lúc ban ðầu coi người di cư như một thứ người ngoại quốc.

Ngoài tiếng nói khác nhau thì tự nó, tiếng nói, chữ dùng cũng thay ðổi từng thời kỳ. Vì thời gian có tác dụng làm xói mòn mọi thứ… Như sắt thì rỉ, gỗ thì mục, hoa thì tàn, lá úa. Trong tương quan con người-người, ngay cả tình yêu riết rồi cũng có thể khô trồi, tình dục sôi sục rồi cũng có thể trở thành thói quen nhàm chán. Kỷ niệm ðầu ðời tưởng không bao giờ quên cũng theo mầu thời gian mà trở thành nhạt nhòa.

Cho dù không có cuộc di cư, chữ nghĩa cũng cách này cách khác bị xói mòn.

Chữ nghĩa như một vật dùng một lần thì còn ngon, nhưng dùng nhiều lần thì mòn hay cùn ði. Như cái kéo cắt mãi cũng phải cùn. Dao băm mãi cũng lụt ði. Khen ði khen lại ðâm nhàm tai. Yêu nhau lắm, cắn nhau ðau, hay ít ra cũng chán. Ðùa dai hoài ðâm nhạt như nước ốc.

Hình như chữ nghĩa dị ứng với cái lập đi lập lại.

Tất cả những ngữ nghĩa trên chỉ ra một ðiều: Thời gian và sự ði lập lại có thể làm xói mòn, hoen rỉ chữ nghĩa. Tâm lý con người lại ưa chuộng cái mới, cái lạ. Như trong tình yêu, dùng chữ ðó với nhau lần ðầu, trọng lượng của chữ nặng lắm, thấm thía lắm, cảm ðộng lắm. Dùng lần thứ hai thấy nhẹ ði rồi. Phải tăng cường ðộ nghĩa bằng những chữ lắm, nhất, số một. Có khi cả bằng tay chân vẫn chưa ðủ. Tăng lời thề..

Hình như vẫn hụt.

Số mệnh chữ nghĩa mỏng manh như số phận con người.

Thời gian như thước ðo chiều dài ngắn của chữ nghĩa, ðồng thời cảnh báo về cái hữu hạn của nó. Sự sợ hãi của Nguyễn Du về sự quên lãng của người ðời phải chăng cũng từ ðấy mà ra.

Chữ có thế vắn số nên có nhiều chữ ðã trở thành chữ cổ ít ai nhắc tới.

Còn nhớ, hồi mới di cư dzô Nam, người Bắc sửng sốt nhất, nghe lạ tai nhất là chữ Mã Tà. Mã tà thời tây là gọi là Hiến Binh, sau này trong Nam gọi là Cảnh sát, ngoài Bắc gọi là Công An. Không biết vì lý do gì, chữ Mã tà sau khoảng hai năm gì đó, không còn nghe ai nói nữa.

  • · Cũng vậy, theo sách vở, chữ manh nghĩa là nhỏ mọn. Người ðời chỉ còn nhớ váng vất khi nó ði với chữ khác như mong manh, tan manh, chiếu manh, manh áo, manh mún.
  • · Một chữ khác như chữ Khem, nghĩa là kiêng cữ. Nếu nó không cặp bạn với chữ Kiêng thì người ta không còn nhận ra nó như Kiêng khem ra nắng, ra gió.
  • · Chữ khác như chữ Lụn, nghĩa là hết, người ta cũng chỉ dùng trong một số trường hợp hiếm hoi: Tim lụn có nghĩa tim ðèn cháy hết, lụn nãm, lụn ngày, mềm lụn, lụn xuống, lụn mạt.(2)

Mấy ai còn nhớ, còn biết, còn xử dụng những chữ cổ trên.

Nhưng có chết đi mới có sống lại, cái chết đi ung mầm ra cái mới.

Nhờ vậy mà chữ nghĩa thay ðổi và tiến bộ, mỗi ngày một ða dạng, một phong phú và chuẩn xác hơn.

Với cái nhìn nhân bản thì chữ nghĩa có một cuộc sống, có dòng sinh mệnh, có thể mất, có thể còn, trôi nổi như ðời sống một người. Nhiều chữ nay ðã chết, nằm chôn vùi trong nghĩa ðịa của các Bảo tàng hay sách cổ.  Nói ra cũng ngậm ngùi.

Xin trích dẫn một số chữ nghĩa làm bằng chứng về sự mất còn này..(3)

Bạn ðọc thấy có nhiều chữ ðược xử dụng cách nay một thế kỷ ðã không còn ðược dùng nữa như bổn báo kỉnh cáo, nhựt trình, con nhà Annam, tấn tài tấn ðức, khia ðằng văn minh.

Nhưng có nhiều chữ vẫn ðược dùng cho ðến ngày nay như chữ Cha Sở và nhất là những chữ khá chuyên môn cách nay 70 nãm như giải phóng, phương diện thương mại và kỹ thuật.

Chữ và Nghĩa

Thời gian ðã là một nhẽ, cộng thêm dụng ý của người xử dụng chữ. Một chữ dùng nay bao hàm nhiều nghĩa, nhất là những từ chính trị. Từ nay, chữ có thêm không phải một mà nhiều nghĩa .

Chữ dùng giống nhau, nhưng nghĩa thì mỗi người hiểu một nghĩa. Người miền Bắc dùng chữ mà lại chú trọng ðến cái nghĩa. Chữ thì chỉ có một, nhưng nghĩa thì có nhiều.

Cùng một chữ mà giọng kéo dài ra, thêm một ngữ từ nghĩa nó khác. Trong chữ: Cô giỏi lắm ðấy. Tùy theo cách nói, tùy theo dụng ý của người dùng mà có thể hiểu giỏi là chê bai, giỏi trở thành lời kết án nghiêm ngặt.

Và các nghĩa này, nó có quy luật của nó nằm trong bộ chữ như nói mát, nói kháy, nói ðãi bôi, khen mà ngụ ý chê.

Huyền thọai về việc xây tháp cổ Babel phải chãng là một bằng cớ báo trước về sự sa ðà của ngôn ngữ, chữ nghĩa và ðến cả số phận của nó nữa.(4)

Nhưng nói chung chữ nghĩa ở tầng cao- chữ nghĩa trong vãn học- của miền Bắc ðã thồi một luồng gió mới cho văn học nói chung ở miền Nam.

Theo giáo sư Lê Văn Lý, trong cuốn Le Parler Vietnamien, Chữ thay ðổi nghĩa khi ngữ vị của nó thay ðổi (5). Nghĩa biến hóa vô chừng.

  • · Nó đến không bảo sao?
    · Nó đến bảo: không sao
    · Nó bảo: sao không đến
    · Nó đến bảo: sao không?
    · Nó bảo đến không sao
    · Nó bảo: không đến sao?
    · Nó không bảo, sao đến?
    · Nó không bảo đến sao?
    · Nó không đến bảo sao?
    · Bảo nó sao không đến?
    · Bảo nó: không đến sao?
    · Bảo sao nó không đến?
    · Bảo nó đến, sao không?
    · Không đến bảo nó sao?
    · Không đến, nó bảo sao?

Và cứ thế tiếp tục với chữ nó, rồi chữ bảo và cuối cùng chữ sao..

Viết mấy dòng này ðể vinh danh một người thầy của nhiều thế hệ sinh viên Hà Nội, Sài gòn cho ðến nãm 1975. Cuốn sách Le Parler Vietnamien, luận án tiến sĩ Ðại học Sorbonne của linh mục, giáo sư Lê Văn Lý ðược dịch ra 17 thứ tiếng trên thế giới.


Nguyễn Văn Lục

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.