Một cuộc hội nhập đầy hứng khởi

Năm 1954, thường người ta chỉ nhắc tới cuộc di cư người. Cũng ðúng. Nhưng người ði thì tiếng nói cũng phải ði theo người. Chữ di cư vào miền Nam, chở ði rồi, bao nhiêu chữ ðã rơi rụng, vung vãi dọc ðường. Bao nhiêu chữ ðã sống còn sau khi ðã hội nhập với chữ nghĩa bản ðịa? Ðó là những câu hỏi cần có câu trả lời.

Nguyễn Văn Lục

Một triệu người di cư là một vấn ðề chính trị như tổ chức di cư, ðịnh cư, ổn ðịnh ðời sống.

Trên con tàu di cư, một người lính Mỹ đang chơi với con nít.
“Ê, ráng mà quất banh qua thành tầu nha. Chú mày (ở truồng) thì không cách gì mà “chùi” được
Nguồn: National Geographic, số tháng 6 1955

Nhưng việc hội nhập là vấn ðề của mỗi một người di cư. Tôi gọi ðó là một cuộc Hội nhập ðầy phấn khởi vì ở nơi ðó ðã không có một cuộc chống ðối ðổng loạt của bất cứ ðịa phương nào. Ðược như vậy vì vài lẽ sau ðây:

  • · Người di cư hiểu thân phận mình là kẻ mới ðến nên can ðảm và kiên trì. Cúi mình xuống ðể ðược nâng lên. Họ cũng hiểu rõ hơn luật thiểu số-ða số cũng như nhập gia tùy tục.
  • · Người dân bản ðịa cũng vốn là một di dân không lâu, có truyền thống lịch sử hiếu khách lại vốn có bản tính rộng lượng và biết phải quấy.
  • · Nhờ ðó sau 21 năm của cuộc di cư, họ ðã mau chóng trở thành một khối dân thuần nhất gồm hơn 20 triệu người. Sự thuần nhất còn trở nên khắng khí, bền chặt hơn khi ðối diện với người chiến thắng. Không ai bảo ai, họ ðều cảm thức ðược họ là kẻ thua cuộc và họ nhìn kẻ thắng cuộc bằng cái nhìn xa lạ, nghi kỵ và cả bất mãn nữa.
  • · Ngay cả người Bắc di cư năm 1954 và người Bắc vào miền Nam sau 1975 tưởng rằng họ cùng quê hương xứ sở, cùng họ hàng máu mủ, cùng chia xẻ một nền văn hóa, nhất là cùng một giọng nói miền Bắc. Tưởng vậy thôi, nhưng là tưởng lầm. Giữa hai người Bắc 1954 và Bắc 1975 ðã không cùng có mẫu số chung. Khoảng cách phân chia giữa họ ðôi khi còn coi nhau như kẻ thù. Ngay cả việc tìm lại họ hàng máu mủ ruột thịt cũng là một trở ngại, vướng mắc khó vượt qua. Có những trường hợp, người con trai ở miền Nam ðã không muốn nhìn nhận lại người cha ruột của minh vì nghĩ rằng người cha ấy ðã không làm tròn bổn phận người chồng, người cha trong gia ðình. Ðó là một bi kịch của cuộc chia ðôi ðất nước.
  • · Nhưng bi kịch ấy ở mặt Hội Nhập của những người di cư vào miền Nam lại trở thành một niềm hy vọng và phấn khởi.
  • · Tôi chưa từng ðược nghe một người nào trong số một triệu người ði vào Nam than vãn là ðã quyết ðịnh lầm hay ðã dại dột vào Nam. Nỗi niềm hoang mang lúc ban ðầu cũng như phải vất vả với cuộc sống mới hầu như người nào cũng trải qua..
  • · Tôi vẫn phải tự hào nhận rằng, tôi là một trong những ðứa trẻ di cư ấy. Tôi ðã ðược ăn học ðến nơi, ðến chốn và là một trong những người di cư may mắn ðó. Và tự thâm tâm tôi tự coi mình là người miền Nam theo trọn nghĩa của nó. Từ sau 1975, chỉ có một cụm từ chỉ chung chúng tôi là : Người Miền Nam. Hay người Việt quốc gia. Chúng tôi suy nghĩ, kiên ðịnh lập trường, tranh ðấu, viết lách, sinh sống làm ăn thì cũng chung cái căn cước ấy: Căn cước Người miền Nam mà không cần lý lẽ biện biệt gốc miền nữa.
  • · Ðó là cái căn cước chính trị chúng tôi tự nguyện ðã chọn lựa từ năm 1954 và nay cũng chẳng có lý do chính ðáng gì ðể thay ðổi cả. Thay ðổi là tự ðánh mất căn cước của mình. Thay ðổi là phản bội lại chính mình. Mặc dầu hiện nay, tôi có thể nói ðang có sự hình thành, một sự ló diện một trận chiến về căn cước người tỵ nạn ở hải ngoại. Có những kẻ ðón gió, ðổi chiều. Tôi khinh bọn họ bất kể họ là ai. Và tôi nhìn thấy mối hiểm nguy của người Người di cư và cuộc hội nhập Việt hải ngoại là họ ðang phải ðối ðầu với những kẻ thù dấu mặt ấy.

Người di cư và cuộc hội nhập

Khi tôi nhìn hình ảnh một người ðàn ông cụt cả hai chân, phải dùng hai bàn tay làm chân, lết lên chiếc tầu há mồm của quân ðội Mỹ, tôi cảm thức sâu xa ðược ý nghĩa cao ðẹp của cuộc di cư này. Cuộc di cư từ miền Bắc vào Nam ðã vô tình mang theo những con người bất hạnh như thế, hầu hết là tay trắng mà hành lý mang theo chỉ là mớ quần áo rách, nồi niêu xong chảo ðáng giá bao nhiêu.

Tuy nhiên, không ai ngờ rằng bên trong những con người, họ còn mang theo họ chữ viết, tiếng nói, nếp sống nếp nghĩ ðến phong tục tập quán cả ngàn nãm và cả tín ngưỡng của họ nữa.

Mỗi người di cư vào miền Nam ðược coi là người mất quê hương,mất cội nguồn và may mắn thay trong cuộc hội nhập ðầy phấn khởi này, họ ðã tìm lại ðược tất cả. Họ có thể mất tất cả, nhưng có thể tìm lại ðược tất cả.

Về mặt chính trị, họ nay là những người quốc gia có tự do, có dân chủ sống trong một chế ðộ cộng hòa, dân chủ và pháp trị. Ðiều chính yếu là không còn chế ðộ phong kiến cũng như chế ðộ thực dân thuộc ðịa.

Về mặt con người, họ là những người miền Nam trọn nghĩa, hương thụ một nền giáo dục nhân bản, khai phóng, lấy con người làm cứu cánh. Và nhất là cùng chia, chịu chung số phận sau 1975.

Trong hoạn nạn, họ có nhau, là nhau. Trong trại tù, trại tập trung, họ là anh em.

Ngoài trại tù, ở hải ngoại họ là những người dân miền Nam cùng chia xẻ số phận ðể mất miền Nam.

Nhận diện bộ mặt những người di cư

Xét bên ngoài họ là những người nghèo khổ, nhếch nhác. Họ ăn mặc lôi thôi lếch thếch, gồng gánh, bồng bế con thơ, hoặc ðứa lớn dắt ðứa bé, cả một ðàn nheo nhóc. Nét mặt họ phần ðông còn ngơ ngác, lo âu thể hiện trong ánh mắt.

Phần lớn bọn họ không có ðến nổi một ðôi dép. Họ ði chân ðất là chính. Phần ða số các bà thì chít khăn, ðầu ðội nón sùm sụp.

Nhìn ðám người nghèo nàn khốn khổ này, quê mùa và có vẻ quê mùa, khờ khạo, tự hỏi họ sẽ là gì trong tương lai? Ai dám ðặt ðể tương lai vào cái ðám người này, vào những ðứa trẻ còn ở chuồng, mặt mũi lem luốc trên?

Những cái cảnh bồng bế, dìu dắt nhau từng ðàn, bước lên tàu há mồm là những cảnh ðược quay lại một cách sống ðộng và có thực.

Nhiều khuôn mặt ðàn ông, ðàn bà như già nua trước tuổi. Nó tố cáo những ngày tháng ðầy gian truân và thử thách ðã qua hầu như vừa qua một cơn ác mộng. Nhiều ông bà cụ xem ra khờ khạo, lóng cóng, vụng về trong cử chỉ, nói nãng. Ðụng một tý là kêu: Dạ, không dám. Lạy Chúa tôi. Giê su ma vv.

Bề ngoài trông họ khờ khạo như thế, bên trong thì không biết ðược. Có thể là một ý chí quyết liệt, bất chấp mọi thử thách, bất chấp mọi ðe dọa của cộng sản. Họ có thể sẵn sàng chết ðể bảo vệ tự do con người. Những làng thuộc vùng khu 4, khu năm, ðôi khi cả làng cùng nhau trốn cộng sản.

Số những người thanh niên, trí thức miền Bắc di cư vào Nam (1) thấy ít ỏi nên tôi không dám chắc bộ dạng của họ có như tôi mô tả ở trên hay không. Tôi xem lại một số hình ảnh trong cuốn sách 50 năm Bắc Kỳ di cư. Tôi cố hình dung ra hình ảnh cô tài tử ðiện ảnh Kiều Chinh, nhưng không hình dung ra ðược.

Tôi chỉ còn cố ghi lại câu nói của ông Vũ Ðức Minh, tức Minh Võ ghi lại tóm tắt hành trình trên ðường chạy trốn khỏi cộng sản : Di cư một kỷ niệm ðắng cay, nhưng ngọt ngào.

Khuôn mặt của tín ngưỡng

Theo sự tính toán cân nhắc cẩn thận trong một bài viết khác, tôi chỉ ước lượng vào khoảng 350.000 tín hữu theo ðạo Công giáo di cư vào miền Nam. Tôi gạt bỏ những con số quá thổi phồng từ 750.000-800.000 người Công giáo.

Nhưng bởi vì nhóm người này nó thành một tập ðoàn, một khối liên kết chặt chẽ nên nhiều người lầm tưởng họ ðông lắm. Tín ngưỡng có lẽ là một trong các món hành lý mang vào miền Nam còn giữ ðược thuần chất nhất. Tôi còn nhớ hình ảnh một thanh niên sau chuyến vượt thoát ðược cộng sản và lên ðược con tàu của Mỹ ðể  ði vào miền Nam. Người thanh niên mệt mỏi nằm ngủ ngay trên sàn tàu. Nhưng trên ngực anh, một tay anh còn giữ chặt một cây Thánh giá lớn.

Hình ảnh ðó biểu tượng nhất và cũng lý tưởng nhất. Người thanh niên này bỏ nhà, bỏ cửa ði vào miền Nam vì anh tin rằng, anh có thể giữ ðạo mà không bị ai cấm ðoán hay ngăn chặn anh nữa.

Người ta cũng nhận thấy ở các trại ðịnh cư một dấu hiệu hội nhập ðầy cá tính miền Bắc. Trại nào nhà cửa cũng ðược xây dựng có hàng lối. Tôi liên tưởng tới các nhà xây dựng có hàng lối ðược gọi là ‘Giồng’ ở miền Bắc. Ðằng trước mỗi nhà có sân nhỏ, ðằng sau có vườn nhỏ, có giếng nước.

Nhưng nay thì thiếu hàng rào dâm bụt quanh nhà. Thiếu hàng cây cau thẳng tắp và sân gạch Bát Tràng, bể nước mưa và hàng lu dọc theo sạn ðựng tương hay cà muối. Nhà cửa xong, họ nghĩ ngay ðến việc dành dụm tiền ðể gom vào xây một ngôi nhà thờ nhỏ, một trường học và một nghĩa ðịa. Có nơi mang ðược cả cái chuông nhà thờ từ miền Bắc ði vào miền Nam.

Nó nhắc nhở người di cư phải tiếp tục nếp sống Ðạo xưa. Khi còn ở ngoài Bắc, họ ðã xây cất ðược khoảng 50 ngôi nhà thờ chạy dọc theo quốc lộ số một từ Hà Nội về Phủ Lý, Nam Ðịnh, Ninh Bình,Thái Bình và Phát Diệm.

Ngày hôm nay, tiếng chuông nhà thờ lại có dịp vang lên mỗi ngày, tiếng cầu kinh sáng tối như muốn nhắc nhở mọi người về cái căn cước người Công giáo di cư của họ.

Phải chăng ðó là những nét ðẹp nhất của nếp sống ðạo miền Bắc ðã ði vào miền Nam.

Trong môi trường hội nhập, thích ứng và ðồng hóa mang tính biện chứng, người dân miền Bắc vì sống tụ tập với nhau nên vẫn giữ gìn ðược một số sắc thái chung như tính chịu khó làm ăn, tính tần tiện lo xa, tính an cư với việc ổn ðịnh ðời sống và nếp sống chung như làng xã ngoài Bắc, có tôn ti trật tự. Nhưng một mặt khác họ vẫn phải thích ứng vào hoàn cảnh mới.

Cuộc hội nhập với cái còn cái mất.

Người di cư vào miền Nam ðược cái gì và mất cái gì. Có thể gần một triệu người ðã không một ai hỏi câu hỏi ðó.

Họ không cần hỏi, chỉ vì hình như họ chỉ có ðược mà không có mất. Thật sự cũng có mất – nhưng có thể ðó là những thứ ðáng mất.

Trong quá trình hội nhập vào xã hội miền Nam, tiếng nói miền Bắc, nhất là các từ ðể chỉ thị các ðồ dùng, các câu chửi có vần ðiệu, các lối nói mát, nói mỉa hầu như dễ bị ðồng hóa nhất. Hầu như sau này, không mấy người sử dụng nữa.

Năm 1954, thường người ta chỉ nhắc tới cuộc di cư người. Cũng ðúng. Nhưng Người ði thì tiếng nói cũng phải ði theo Người.

Chữ nghĩa, tiếng nói miền Bắc cũng lếch thếch nối ðuôi nhau lên tầu há mồm. Chuyến ði gian nan của nguời di cư thế nào thì chữ nghĩa có lẽ cũng vậy.

Chữ nào ở lại, chữ nào ra ði, chữ nào còn, chữ nào mất. Chữ nào không ðược dùng nữa. Chữ nào rơi vào quên lãng. Chẳng ai còn tâm trí ðâu ðể lưu tâm tới ðiều ðó.

Chữ ðược di cư vào miền Nam, chở ði rồi, bao nhiêu chữ ðã rơi rụng, vung vãi dọc ðường. Bao nhiêu chữ ðã sống còn sau khi ðã hội nhập với chữ nghĩa bản ðịa? Ðó là những câu hỏi cần có câu trả lời.

Và phải ðợi 21 nãm sau ngày 30 tháng tư 1975, người viết bài này mới chợt cảm thức ra là có một sự mất mát ðáng kể- nếu không nói là ðến gần một nửa số chữ, các câu nói, các cách xưng hô tùy theo tuổi tác, tùy theo chức vụ xã hội, các cách chào hỏi, cách chúc tụng nhau trong dịp tế nhất, cách thức mời nhau trước bữa cơm, tục hút thuốc lào, cách xỉa răng, cách ăn mặc..ðã không biết bao nhiêu ðiều sau chừng 10 năm ðã ðổi khác hoàn toàn.

Phần các từ, các chữ, tôi chỉ nhận ra sự thay ðổi khi có dịp ðọc lại các nhà văn miền Bắc. Nhưng hình như cũng ít ai ðể ý ðến cái mất, cái còn của chữ nghĩa, vì có quá nhiều cái ðược lớn hơn.

Chẳng hạn, có những cái mất như chiếc khăn mỏ quạ miền Bắc không biết từ lúc nào ðã biến mất hẳn. Hàm răng ðen dấu hiệu ðặc biệt của dân quê miền Bắc cũng dần dần không còn có dịp ðược nhìn thấy nữa.Người ta không còn ðược nhìn thấy chiếc khăn lượt quấn chữ Nhân trên ðầu các ông nữa. Tục hút thuốc lào của các ông cũng mất dần mà sau này họa hiếm mới thấy một số người còn hút. Tục ăn trầu cũng bớt hẳn. Những lối mời chào, khách sáo của người dần không còn nữa.

Trong nhà nay cũng thiếu những chiếc chiếu cạp ðiều, họa hiếm mới còn nhìn thấy những chiếc sập gụ gỗ lim.

Nhưng, chiếc áo cánh vải phin nõn không cài khua bó khít lấy thân thể người phụ nữ miền Bắc bên trong lộ ra dải yếm mới ðẹp và gợi cảm làm sao so với cái áo bà ba rộng thùng thình. Vậy mà chiếc áo cánh phin nõn cũng dần biến mất và chỉ còn ðược ghi giữ lại trong các bức ảnh nghệ thuật sau này mà thôi.

Nhưng có một ðiều chắc chắn nhất là chiếc áo dài miền Bắc xem ra trở thành cái ðược ưu thế thời thượng làm biến mất chiếc áo bà ba và chiếc quần ống rộng của xã hội miền Nam. Cũng xin ghi nhận cho rõ. Có ít nhất hai loại áo dài thông dụng ở ngoài Bắc. Một loại áo dài ở nhà quê có hai vạt ðằng trước và thắt núm ở khoảng giữa ngực. Loại này giống chiếc áo cánh không còn ai mặc nữa. Loại áo dài có hai vạt, một ðằng trước một ðằng sau mới trở thành thời thượng mà công ðầu phải dành ðể ghi ơn mấy ông chủ thợ may ở Saigon.

Họ đã có công làm đẹp gái Sài Gòn.

Ngoài người thợ may, công ấy dành cho nhà thơ như Nguyên Sa hay Phạm Thiên Thư:

Nắng Sài Gòn, anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh yêu mầu áo ấy vô cùng

Hay:

Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay

Điều đó cho thấy rằng trong quá trình hội nhập có kế thừa, có thải loại nhưng cũng có chọn lọc. Chiếc áo dài nay là biểu tượng của hình nét, sự thướt tha, sự gợi cảm, biểu lộ phái tính trong biện chứng khép mở. Nó có tính cách mời gọi và đặt để người con gái vào một vị thế như một đối tượng được chiêm ngưỡng trong đó những đường nét hằn lên tuổi dậy thì.

Chiếc áo dài con gái Việt Nam đẹp một cách quyến rũ vì nó thướt tha. Nó không cứng nhắc như áo Kimono của Nhật hay Đại Hàn.

Theo họa sĩ trần Cao Lĩnh, áo dài phụ nữ Việt Nam trở thành ðẹp vì có gió. Gió làm tà áo em bay,gió làm em mở phơi, tươi sáng và mời gọi.

Sức sống, tình yêu như được hiển lộ, khai mở.

Em còn áo trắng ngày xưa
Trông anh muôn thuở bao giờ lệ hoen.

(Thơ Phạm Thiên Thư)

Tôi đã không biết bao lần quên lối về bởi chiếc áo dài con gái Nha Trang, Huế, Biên Hòa, Sài gòn. Để rồi:

Hôm sau vào lớp
Nhìn em ngại ngần

( Phạm Thiên Thư)

Và nó cũng mở đầu cho thiên tình khúc tuyệt vời Ngày xưa … Hoàng Thị của Pham Thiên Thư:

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ..
Anh đi theo hoài
Gót giày thầm lặng
Đường chiều úa nắng

Chẳng những thế, sau này chiếc áo dài nó trở thành tiêu biểu cho tuổi trẻ nữ sinh từ thành thị xuống ðến tận thôn quên. Và bây giờ thì nó trở thành cá tính dân tộc của toàn dân hai miền.

Nhưng cùng một lẽ ấy, ðôi guốc mộc, chiếc áo bà ba rộng thùng thình với chiếc quần rộng ống của các cô gái miền Nam không biết từ lúc nào cũng dần biến mất.Cái tật trồng rãng vàng của người miền Nam cũng dần trở thành họa hiếm.

Nguyễn Văn Lục

1 thought on “Một cuộc hội nhập đầy hứng khởi

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.